Tổng quan nghiên cứu

Huyện Cư M’gar thuộc tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên rộng lớn với quy mô dân số đạt khoảng 173.000 người, quy tụ 24 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 46,6%. Địa phương hiện lưu giữ 14 lễ hội truyền thống đặc sắc cùng 3 danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh. Mặc dù sở hữu kho tàng văn hóa dân gian phong phú và cảnh quan sinh thái đồi Cư H'lâm cao gần 600m, nguồn thu từ hoạt động du lịch của huyện vẫn chiếm tỷ trọng dưới 1% trong cơ cấu kinh tế địa phương. Thực trạng thương mại hóa, nguy cơ mai một bản sắc và sự thiếu hụt các sản phẩm du lịch cộng đồng đặc trưng đang đặt ra thách thức gay gắt cho bộ máy chính quyền cơ sở.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Đỗ Thị Thu Lan tập trung giải quyết bài toán: Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội gắn với chiến lược phát triển du lịch cộng đồng bền vững trên địa bàn huyện Cư M’gar. Phạm vi nghiên cứu khảo sát toàn diện thực trạng quản lý giai đoạn 2021–2024 và đề xuất định hướng can thiệp cho giai đoạn 2025–2030. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản chỉ đạo, tối ưu hóa nguồn lực công, phấn đấu nâng mức đóng góp của du lịch cộng đồng vào GDP huyện và bảo tồn nguyên vẹn các giá trị văn hóa phi vật thể của 24 cộng đồng dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Quản lý công mới kết hợp cùng Mô hình Du lịch Dựa vào Cộng đồng nhằm phân tích vai trò điều tiết của cơ quan công quyền trong việc dung hòa giữa bảo tồn di sản và thương mại hóa dịch vụ. Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm trọng tâm:

  1. Quản lý nhà nước về lễ hội: Hoạt động sử dụng quyền lực pháp lý, chính sách và chế tài để định hướng, thanh tra, kiểm tra và bảo tồn các giá trị lễ hội theo đúng chuẩn mực văn hóa.
  2. Du lịch cộng đồng: Hình thức du lịch mang lại sinh kế trực tiếp cho người dân bản địa thông qua việc cung ứng dịch vụ trải nghiệm văn hóa, ẩm thực và cảnh quan sinh thái.
  3. Không gian văn hóa phi vật thể: Môi trường diễn xướng, sinh hoạt tín ngưỡng và diễn tấu cồng chiêng gắn liền với đời sống tâm linh của các buôn làng.
  4. Liên kết công - tư trong quản trị văn hóa: Cơ chế phối hợp giữa chính quyền cấp huyện, xã với các hợp tác xã, doanh nghiệp lữ hành và các già làng, trưởng buôn.

Hệ thống pháp lý quy chiếu xuyên suốt đề tài gồm Luật Di sản văn hóa, Nghị định 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội, cùng Nghị định 158/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm. Quy mô khảo sát thực địa đạt 180 phiếu bảng hỏi hợp lệ tại 15 xã và 2 thị trấn của huyện Cư M’gar. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện chính xác cho cơ cấu dân cư, bao gồm cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin, công chức văn hóa cấp xã, và đại diện cộng đồng các dân tộc Êđê (chiếm 36% dân số), Xê Đăng (chiếm 1,08%), Tày và Nùng (chiếm 0,57%).

Tác giả thực hiện 15 cuộc phỏng vấn sâu với các già làng, nghệ nhân dân gian và nhà quản lý cơ sở lưu trú. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính là nhằm đo lường chính xác mối tương quan giữa mức độ hoàn thiện của thể chế quản lý và hiệu quả khai thác kinh tế từ 14 lễ hội truyền thống. Khung thời gian thu thập số liệu kéo dài từ tháng 1/2021 đến tháng 6/2024, tạo nền tảng dữ liệu thực chứng vững chắc cho các kết luận khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác thể chế hóa và phổ biến chính sách đạt nhiều kết quả tích cực. Trong giai đoạn 2021–2024, UBND huyện đã ban hành Kế hoạch số 59/KH-UBND và Kế hoạch số 119/KH-UBND về bảo tồn văn hóa gắn với du lịch, đồng thời tổ chức 201 buổi tuyên truyền pháp luật thu hút 1.470 lượt người dân tham gia. Địa phương đã phục dựng thành công và duy trì tổ chức đều đặn 14 lễ hội truyền thống tiêu biểu như Lễ mừng lúa mới của người Xê Đăng, Lễ cúng no của người Êđê và Lễ hội Lồng tồng của người Tày, Nùng.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật ghi nhận bước tiến lớn nhưng cơ sở vật chất du lịch chuyên ngành còn rất hạn chế. Toàn huyện đã nhựa hóa và bê tông hóa thêm 134 km đường giao thông (gồm 37 km đường huyện, 11 km đường đô thị và 86 km đường xã). Tuy nhiên, toàn địa bàn chỉ có 12 cơ sở kinh doanh lưu trú với 170 phòng quy mô nhỏ lẻ, đạt tỷ lệ 0% cơ sở được xếp hạng sao tiêu chuẩn.

Thứ ba, nguồn nhân lực quản lý và phục vụ du lịch còn mỏng. Bộ máy Phòng Văn hóa và Thông tin huyện có 10 biên chế với 80% đạt trình độ đại học (8 người), 20% cao đẳng (2 người) và 10% có trình độ cao cấp lý luận chính trị. Dù vậy, toàn huyện chỉ có 50 lao động du lịch trực tiếp và 100 lao động gián tiếp, hầu hết chưa qua đào tạo bài bản về kỹ năng đón tiếp du khách quốc tế và quản trị mô hình du lịch cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp qua bảng phân tích tương quan giữa hạ tầng lưu trú và nguồn thu từ lễ hội cho thấy một nghịch lý rõ rệt: dù tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện đạt 8,1% và diện tích chuyên canh cây công nghiệp đạt khoảng 73.000 ha, giá trị kinh tế thu được từ chuỗi hoạt động lễ hội vẫn gần như bằng không. Biểu đồ phân bổ loại hình du lịch chỉ ra rằng hơn 90% lượng du khách đến Cư M'gar chỉ tham quan trong ngày tại đồi Cư H'lâm hoặc bến nước Dăm Di rồi rời đi, không phát sinh chi tiêu lưu trú hay mua sắm sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Nguyên nhân của tình trạng trên bắt nguồn từ sự xâm lăng của các yếu tố văn hóa lai căng, tâm lý chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt làm xuất hiện tình trạng thất thoát cồng chiêng tại một số buôn làng, cùng với sự thiếu vắng các chính sách ưu đãi đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp lữ hành đầu tư. So sánh với các nghiên cứu quản lý di sản tại các địa phương lân cận thuộc vùng Tây Nguyên, công tác quản lý lễ hội tại Cư M’gar đã làm tốt khâu giữ gìn trật tự an ninh (không xảy ra cờ bạc, mê tín dị đoan), nhưng đang bộc lộ điểm nghẽn lớn trong việc chuyển hóa di sản văn hóa thành tài sản kinh tế phục vụ cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội gắn với phát triển du lịch cộng đồng, chính quyền huyện Cư M’gar cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược trong giai đoạn 2025–2030:

  • Đổi mới phương thức tuyên truyền và giáo dục di sản: UBND huyện Cư M’gar chỉ đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường trung học phổ thông đưa 100% nội dung trình diễn cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm và sử thi vào chương trình ngoại khóa; phấn đấu nâng tỷ lệ thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số hiểu biết sâu sắc về 14 lễ hội truyền thống lên 85% trước năm 2027.
  • Chuẩn hóa và bồi dưỡng năng lực cán bộ, nhân lực cộng đồng: Phòng Văn hóa và Thông tin chủ trì tổ chức tối thiểu 10 lớp tập huấn nghiệp vụ du lịch cộng đồng hàng năm, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo từ 46% lên 70% vào năm 2028; thiết lập cơ chế tôn vinh và hỗ trợ phụ cấp trách nhiệm cho 100% già làng, trưởng buôn tham gia ban chỉ đạo lễ hội.
  • Đẩy mạnh xã hội hóa và đầu tư hạ tầng dịch vụ: UBND huyện tiến hành quy hoạch phân khu chức năng du lịch sinh thái đồi Cư H'lâm và bến nước Dăm Di, tổ chức 2 hội nghị xúc tiến đầu tư quy mô vùng mỗi giai đoạn, đặt chỉ tiêu nâng cấp hệ thống lưu trú đạt mốc 300 phòng đạt chuẩn và thu hút ít nhất 2 doanh nghiệp lữ hành chiến lược trước năm 2029.
  • Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xây dựng quy chế lễ hội văn minh: Đội kiểm tra liên ngành huyện phối hợp UBND 15 xã và 2 thị trấn thực hiện 100% đợt thanh tra trước, trong và sau thời điểm tổ chức 14 lễ hội mùa khô hàng năm; xử lý dứt điểm các hành vi thương mại hóa sai quy định theo Nghị định 158/2013/NĐ-CP nhằm giữ vững môi trường du lịch an toàn, thân thiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ quản lý nhà nước và công chức văn hóa - thông tin cấp huyện, xã: Nắm bắt quy trình xây dựng kế hoạch quản lý lễ hội chuẩn mực, các biểu mẫu đánh giá thực trạng và phương thức điều hành liên ngành hiệu quả theo tinh thần Nghị định 110/2018/NĐ-CP.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý công, Văn hóa học, Du lịch học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống dữ liệu thực địa phong phú về không gian văn hóa Tây Nguyên và mô hình phân tích chính sách công cấp địa phương.
  • Doanh nghiệp lữ hành, hợp tác xã và các nhà đầu tư du lịch: Khai thác kho tàng dữ liệu về 14 lễ hội bản địa và 3 danh lam thắng cảnh cấp tỉnh, quốc gia để xây dựng các tour trải nghiệm văn hóa độc đáo, định hình sản phẩm du lịch nông nghiệp nông thôn chất lượng cao.
  • Già làng, nghệ nhân dân gian và ban tự quản các thôn, buôn: Nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của cộng đồng chủ thể di sản, học hỏi phương pháp tự quản, gây quỹ xã hội hóa và kỹ năng cung ứng dịch vụ du lịch cộng đồng chuyên nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hoạt động quản lý lễ hội tại huyện Cư M’gar có điểm gì đặc thù so với các huyện đồng bằng? Cư M’gar là địa bàn đa dân tộc với 24 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 46,6% dân số sinh sống tập trung tại 71 buôn làng. Quản lý lễ hội tại đây không chỉ đơn thuần là điều hành hành chính mà còn phải dung hòa chặt chẽ giữa luật tục truyền thống và pháp luật nhà nước, dựa vào vai trò trung tâm của các già làng để duy trì 14 lễ hội nguyên bản.

  2. Thực trạng cơ sở hạ tầng du lịch Cư M’gar hiện nay có đáp ứng được nhu cầu của các đoàn khách lớn không? Hiện tại hạ tầng du lịch chưa đáp ứng được nhu cầu lưu trú quy mô lớn do toàn huyện chỉ có 12 cơ sở lưu trú nhỏ lẻ với 170 phòng và 0% cơ sở đạt chuẩn sao. Dù 134 km đường giao thông nông thôn đã được nâng cấp, huyện vẫn thiếu các trạm dừng chân đạt chuẩn, nhà vệ sinh công cộng hiện đại và các cơ sở ăn uống quy mô phục vụ cùng lúc trên 200 khách.

  3. Kinh phí tổ chức các lễ hội truyền thống tại các buôn làng được huy động từ những nguồn nào? Nguồn tài chính kết hợp giữa phần hỗ trợ định mức từ ngân sách nhà nước theo Kế hoạch 119/KH-UBND và nguồn lực tự nguyện đóng góp của người dân. Tại 71 buôn làng, bà con đóng góp trực tiếp bằng nông sản, rượu cần, heo, gà và hàng trăm ngày công lao động để dựng cây nêu, dọn dẹp vệ sinh và chế biến ẩm thực truyền thống.

  4. Vì sao du lịch cộng đồng gắn với lễ hội tại Cư M’gar chưa phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có? Hạn chế này bắt nguồn từ việc tính thời vụ của lễ hội quá cao (tập trung chủ yếu từ tháng 1 đến tháng 3), toàn huyện chỉ có 50 lao động du lịch trực tiếp thiếu kỹ năng tiếp thị, và địa phương chưa giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thủ tục đất đai để thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào du lịch sinh thái.

  5. Đề án đặt ra mục tiêu đột phá nào cho giai đoạn thực hiện 2025–2030? Đề án đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động du lịch qua đào tạo lên mức 70%, nâng tổng số phòng lưu trú đạt chuẩn lên 300 phòng, chuẩn hóa 100% quy trình tổ chức của 14 lễ hội thường niên, và hình thành ít nhất 2 điểm du lịch cộng đồng kiểu mẫu tại buôn H'Ring và bến nước Dăm Di.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận quản lý nhà nước về lễ hội gắn liền với du lịch cộng đồng cấp huyện theo chuẩn mực quản trị công hiện đại.
  • Công trình phản ánh bức tranh thực chứng sắc nét về 14 lễ hội truyền thống, hiện trạng 12 cơ sở lưu trú và mạng lưới giao thông 134 km tại Cư M’gar.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các điểm nghẽn căn bản về nguồn nhân lực du lịch mỏng (50 lao động trực tiếp) và nguy cơ mai một không gian văn hóa cồng chiêng.
  • Đề xuất 4 hệ thống giải pháp khả thi kèm lộ trình tổ chức thực hiện cụ thể theo 2 giai đoạn từ tháng 1/2025 đến tháng 12/2030.
  • Khẳng định vai trò quyết định của cộng đồng 24 dân tộc trong việc bảo tồn di sản và kiến tạo sinh kế xóa đói giảm nghèo bền vững.

Đề án tốt nghiệp thạc sĩ của tác giả Đỗ Thị Thu Lan là công trình nghiên cứu công phu, cung cấp bộ công cụ quản lý và định hướng thực thi chính sách thiết thực cho huyện Cư M’gar. Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và các nhà nghiên cứu hãy cùng tham khảo, ứng dụng và chung tay hiện thực hóa các giải pháp để đưa Cư M’gar trở thành điểm sáng du lịch cộng đồng của tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 2025–2030.