Tổng quan nghiên cứu

Xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị cấp cơ sở là nhiệm vụ then chốt nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân. Trên địa bàn huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, với diện tích tự nhiên 156,48 km2 và quy mô dân số đạt 109,7 nghìn người vào năm 2018, hệ thống chính quyền gồm 19 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 18 xã và 1 thị trấn. Trong đó, có 15 xã miền núi và 4 xã trung du, đặt ra nhiều thách thức đặc thù đối với công tác điều hành quản lý nhà nước. Tổng số cán bộ chủ chốt cấp xã của huyện duy trì ở mức 115 người trong năm 2017 và năm 2018, giữ vai trò hạt nhân trực tiếp triển khai đường lối, chính sách và các chương trình mục tiêu quốc gia.

Mặc dù kinh tế huyện duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,4% trong giai đoạn 2016-2018 và từng đạt 7,0% giai đoạn 2010-2015, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Cơ cấu độ tuổi chưa thực sự hợp lý khi nhóm cán bộ từ 46 đến 60 tuổi chiếm tới 60,9%, trong khi cán bộ trẻ dưới 30 tuổi chỉ chiếm 1,7%. Bên cạnh đó, kỹ năng quản trị hiện đại, năng lực xử lý các vấn đề phát sinh và phong cách làm việc của một bộ phận cán bộ chưa theo kịp yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn mới.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng năng lực, phẩm chất, tri thức của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tại huyện Phù Ninh giai đoạn 2016-2018, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng để đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020-2025. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh chuẩn hóa 100% chức danh lãnh đạo cơ sở, nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ đạt trên 20% và gia tăng năng lực cạnh tranh kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của Thuyết quản trị nguồn nhân lực khu vực công kết hợp Mô hình năng lực lãnh đạo và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Trong quản trị công, chất lượng đội ngũ lãnh đạo là sự tích hợp giữa phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, tri thức chuyên môn và kỹ năng điều hành thực thi chính sách.

Khái niệm cán bộ cấp xã được xác định theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, chỉ những công dân Việt Nam được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy và người đứng đầu các tổ chức chính trị xã hội. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là nhóm nhân sự giữ vị trí nòng cốt, đứng đầu tổ chức bộ máy cơ sở, có thẩm quyền ban hành quyết định và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

Chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, năng lực nắm bắt chủ trương của Đảng, nghệ thuật vận động quần chúng và hiệu quả phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Nghiên cứu căn cứ vào tiêu chuẩn tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ, quy định cán bộ tham gia lần đầu không quá 45 tuổi và đảm bảo thời gian công tác ít nhất 2 nhiệm kỳ, cùng hệ thống 11 chức danh cán bộ chuyên trách và 7 chức danh công chức theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ để lượng hóa các tiêu chí đánh giá.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp nhằm đảm bảo tính toàn diện và độ tin cậy khoa học. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tổng kết, nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Phù Ninh nhiệm kỳ 2010-2015 và 2015-2020, số liệu thống kê giai đoạn 2016-2018 từ Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức Huyện ủy và Chi cục Thống kê huyện Phù Ninh.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2018 với tổng quy mô mẫu điều tra là 200 đối tượng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng để chọn 6 xã điểm đại diện cho 3 tiểu vùng địa lý của huyện: thị trấn Phong Châu và xã Phú Lộc đại diện vùng trung tâm; xã Tiên Phú và xã Trạm Thản đại diện vùng phía Bắc; xã Vĩnh Phú và xã Tử Đà đại diện vùng phía Nam dọc sông Lô. Tại mỗi xã điểm, tác giả khảo sát 10 công chức chuyên môn thường xuyên làm việc trực tiếp với lãnh đạo xã (tổng cộng 60 công chức) và 20 người dân tại các khu dân cư (tổng cộng 120 người dân). Ngoài ra, tác giả phỏng vấn sâu 20 cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện thuộc Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh.

Phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu đa chiều được lựa chọn nhằm phân tích số tuyệt đối, số tương đối, tỷ lệ phần trăm và so sánh đánh giá chéo giữa các nhóm chủ thể. Lý do lựa chọn cách tiếp cận này là để tạo ra góc nhìn khách quan, đa chiều, giúp nhận diện rõ khoảng cách giữa năng lực tự đánh giá của cán bộ với mức độ hài lòng thực tế của nhân dân và yêu cầu chỉ đạo từ cấp trên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát thực tế tại huyện Phù Ninh cho thấy đội ngũ cán bộ công chức cấp xã giai đoạn 2016-2018 tương đối ổn định về quy mô với 386 người năm 2018, trong đó đội ngũ cán bộ chủ chốt có 115 người. Các phát hiện nổi bật bao gồm:

Thứ nhất, cơ cấu cán bộ chủ chốt mất cân đối nghiêm trọng về độ tuổi và giới tính. Năm 2018, nhóm tuổi từ 46 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo với 60,9% (70 người), nhóm từ 30 đến 45 tuổi chiếm 37,4% (43 người), trong khi cán bộ trẻ dưới 30 tuổi chỉ có 2 người, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,7%. Về giới tính, nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 86,1% (99 người), cán bộ nữ chỉ đạt 13,9% (16 người). Tỷ lệ cán bộ trẻ được bổ sung vào các vị trí hạt nhân như Bí thư Đảng ủy hay Chủ tịch Ủy ban nhân dân gần như không đáng kể, chủ yếu tập trung ở khối đoàn thể.

Thứ hai, 100% cán bộ chủ chốt đã tốt nghiệp trung học phổ thông và qua đào tạo lý luận chính trị cơ bản, song tỷ lệ có trình độ chuyên môn đại học chính quy chưa cao. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý hành chính hiện đại còn nhiều hạn chế, gây chậm trễ trong xử lý thủ tục hành chính tại 15 xã miền núi.

Thứ ba, kỹ năng tổ chức điều hành và lề lối làm việc bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Khảo sát 120 người dân cho thấy sự đánh giá đối với kỹ năng đối thoại trực tiếp, tiếp công dân và giải quyết khiếu nại của cán bộ chủ chốt thấp hơn đáng kể so với kết quả tự đánh giá của cán bộ huyện và công chức xã. Một bộ phận cán bộ còn mang nặng tư duy hành chính mệnh lệnh, thiếu tính chủ động sáng tạo trong chỉ đạo phát triển kinh tế địa phương.

Dữ liệu thực trạng này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu giới tính (86,1% nam so với 13,9% nữ), biểu đồ cột xếp chồng phản ánh ba nhóm độ tuổi của 115 cán bộ qua các năm 2016-2018, kết hợp bảng ma trận so sánh mức độ hài lòng giữa 3 nhóm đối tượng khảo sát về 6 nhóm kỹ năng lãnh đạo.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chất lượng cán bộ chủ chốt tại huyện Phù Ninh bắt nguồn từ cả nhân tố chủ quan lẫn khách quan. Về mặt chủ quan, một bộ phận cán bộ thiếu ý thức tự học, tự rèn luyện và chưa thực sự thích ứng với kinh tế thị trường. Về mặt khách quan, công tác quy hoạch cán bộ tại chỗ còn khép kín, thiếu tính cạnh tranh; chính sách đãi ngộ tiền lương và phụ cấp chưa đủ sức thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về công tác tại tuyến xã.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi có 100% cán bộ chủ chốt đạt chuẩn, 171/524 cán bộ đạt trình độ đại học và trên 70% công chức mới tuyển dụng có bằng đại học chính quy, huyện Phù Ninh còn khoảng cách khá xa về chuẩn hóa học vị chuyên môn. Tương tự, so với mô hình quy hoạch dài hạn và chương trình đào tạo sau đại học tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (với 76% cán bộ đạt trình độ trung cấp chuyên môn trở lên và 55% có trình độ lý luận chính trị trung, cao cấp), Phù Ninh chưa có cơ chế đột phá trong việc luân chuyển cán bộ trẻ có trình độ từ cấp huyện về cơ sở.

Việc giải quyết dứt điểm các tồn tại về chất lượng cán bộ cơ sở là điều kiện tiên quyết để huyện Phù Ninh duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 6,4%/năm, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi hiệu quả và hoàn thành thắng lợi mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại 19 xã, thị trấn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao toàn diện chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã tại huyện Phù Ninh giai đoạn 2020-2025:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện bộ tiêu chuẩn chức danh cụ thể cho từng vị trí lãnh đạo xã. Ban Tổ chức Huyện ủy phối hợp cùng Phòng Nội vụ huyện rà soát, lượng hóa các tiêu chí về học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị và kỹ năng thực thi công vụ. Mục tiêu đến năm 2025 đạt 100% cán bộ chủ chốt có trình độ đại học chuyên môn phù hợp và trung cấp lý luận chính trị trở lên, thực hiện đánh giá hiệu quả công việc định kỳ hàng năm dựa trên kết quả đầu ra cụ thể.

Thứ hai, đổi mới công tác quy hoạch, tuyển chọn và luân chuyển cán bộ. Ban Thường vụ Huyện ủy Phù Ninh cần chủ động đưa nguồn cán bộ trẻ có năng lực từ các phòng ban cấp huyện về đảm nhiệm chức danh chủ chốt tại các xã khó khăn. Mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ dưới 45 tuổi lên trên 45%, cán bộ dưới 35 tuổi đạt trên 15% và tỷ lệ cán bộ nữ trong cơ cấu lãnh đạo cấp xã đạt từ 20% đến 25% vào năm 2025.

Thứ ba, đa dạng hóa phương thức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực tiễn. Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện phối hợp với Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ mở từ 2 đến 3 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về kỹ năng điều hành cuộc họp, kỹ năng đối thoại với nhân dân, xử lý điểm nóng và ứng dụng công nghệ thông tin cho 115 cán bộ chủ chốt.

Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy cùng Hội đồng nhân dân huyện định kỳ kiểm tra việc thực thi công vụ, giải quyết đơn thư khiếu nại tại 19 xã, thị trấn; kiên quyết thay thế, điều chuyển những cán bộ vi phạm kỷ luật, suy thoái đạo đức hoặc có tỷ lệ tín nhiệm thấp.

Thứ năm, cải thiện môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ. Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh cần bố trí ngân sách hiện đại hóa trụ sở làm việc, bổ sung kinh phí hỗ trợ đào tạo và áp dụng quy chế khen thưởng kịp thời đối với cán bộ có sáng kiến đột phá trong phát triển kinh tế xã hội cơ sở.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Thứ nhất, cấp ủy Đảng và chính quyền cấp huyện, cấp xã tại các địa phương trung du miền núi. Lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh cùng các huyện có điều kiện tương đồng có thể sử dụng các giải pháp trong luận văn làm tài liệu định hướng để xây dựng đề án quy hoạch, đào tạo và luân chuyển cho 115 vị trí lãnh đạo cơ sở trong các nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ.

Thứ hai, cơ quan tham mưu về công tác tổ chức và nội vụ. Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Huyện ủy và Phòng Nội vụ có thể ứng dụng khung tiêu chuẩn chức danh cùng bộ chỉ số đánh giá năng lực thực thi công vụ để chuẩn hóa quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm 386 cán bộ, công chức cấp xã theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp.

Thứ three, giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý. Các trường chính trị cấp tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện và các cơ sở giáo dục đại học khối ngành Quản trị kinh doanh, Quản lý công có thể khai thác hệ thống dữ liệu 200 mẫu khảo sát làm tài liệu tham khảo cho các chuyên đề về quản trị nhân lực khu vực công.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ nguồn và cán bộ chủ chốt đương nhiệm tại 19 xã, thị trấn. Cán bộ cơ sở có thể tham khảo các yêu cầu về năng lực, phẩm chất và kỹ năng lãnh đạo để tự soi chiếu, chủ động học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng đối thoại quần chúng nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tập trung nghiên cứu những chức danh cán bộ chủ chốt cụ thể nào? Nghiên cứu tập trung vào 6 chức danh nòng cốt tại 19 xã, thị trấn thuộc huyện Phù Ninh, bao gồm: Bí thư Đảng ủy, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, đại diện cho 115 nhân sự lãnh đạo trực tiếp bộ máy chính trị cơ sở.

Đặc điểm nổi bật nhất về cơ cấu cán bộ chủ chốt huyện Phù Ninh giai đoạn 2016-2018 là gì? Điểm nổi bật là sự mất cân đối về độ tuổi và giới tính. Nhóm tuổi từ 46 đến 60 chiếm tỷ lệ áp đảo 60,9% với 70 cán bộ, trong khi độ tuổi dưới 30 chỉ chiếm 1,7% với 2 người. Đồng thời, tỷ lệ nữ giới còn rất thấp khi chỉ đạt 13,9% (16 người), so với 86,1% của nam giới (99 người).

Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp được thiết kế như thế nào để đảm bảo tính đại diện? Tác giả đã khảo sát 200 đối tượng tại 6 xã điểm đại diện cho 3 tiểu vùng địa lý của huyện Phù Ninh. Mẫu bao gồm 60 công chức cấp xã (10 người mỗi xã), 120 người dân địa phương (20 người mỗi xã) và 20 cán bộ lãnh đạo cấp huyện, đảm bảo đánh giá toàn diện từ trên xuống và từ dưới lên.

Kinh nghiệm từ các huyện như Hải Hậu hay Bình Chánh gợi mở điều gì cho Phù Ninh? Kinh nghiệm chỉ ra rằng cần chuẩn hóa 100% trình độ đại học cho cán bộ chủ chốt, đẩy mạnh tuyển dụng cử nhân đại học chính quy như Hải Hậu (trên 70% công chức mới) và thực hiện quy hoạch cán bộ trẻ dài hạn kết hợp luân chuyển bài bản như mô hình tại Bình Chánh.

Mục tiêu trọng tâm của các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ giai đoạn 2020-2025 là gì? Mục tiêu là đạt 100% cán bộ chủ chốt có trình độ đại học chuyên môn và trung cấp lý luận chính trị, nâng tỷ lệ cán bộ nữ lên trên 20%, tỷ lệ cán bộ dưới 35 tuổi đạt trên 15%, đồng thời chuẩn hóa kỹ năng đối thoại và chuyển đổi số cho 115 cán bộ lãnh đạo xã.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nguồn nhân lực khu vực công cấp cơ sở, áp dụng chặt chẽ vào bối cảnh huyện miền núi Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  • Dữ liệu khảo sát thực tế từ 200 đối tượng tại 6 xã điểm đã làm rõ thực trạng 115 cán bộ chủ chốt, chỉ ra điểm nghẽn lớn về già hóa độ tuổi (60,9% từ 46-60 tuổi) và tỷ lệ nữ còn thấp (13,9%).
  • Công trình đóng góp hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với lộ trình 2020-2025, tập trung vào chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh, luân chuyển cán bộ trẻ và đổi mới đào tạo kỹ năng thực chiến.
  • Các cơ quan chức năng huyện Phù Ninh cần khẩn trương cụ thể hóa các khuyến nghị thành đề án hành động, định kỳ kiểm tra giám sát hiệu quả thực thi tại toàn bộ 19 xã, thị trấn.
  • Cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương hãy chủ động tham khảo, ứng dụng mô hình đánh giá và giải pháp từ luận văn để xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững.