CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC MỞ 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài Những năm gần đây, ở nuớc ta đã xuất hiện một số công trình khoa học nghiên cứu việc thực hiện chủ trương của Đảng trong một số lĩnh vực (giáo dục-đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thể dục thể thao, dân số – kế hoạch hoá gia đình, chuyển giao khoa học về nông thôn .) bằng con đường xã hội hoá. Trong các công trình đó cần nêu lên các đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học công tác tại Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Viện Khoa học Giáo dục, Ban Khoa giáo trung ương [7]., các tài liệu của Ban Khoa giáo Trung ương chuẩn bị cho việc tổng kết chuyên đề “xã hội hoá về giáo dục, y tế, văn hoá năm 2000 [2], trong đó đã đề cập đến tình hình triển khai thực hiện chủ trương xã hội hoá, nhận thức về bản chất và nội dung xã hội hoá, các mô hình xã hội hoá, những kết quả cụ thể của hoạt động xã hội hoá trong các lĩnh vực, các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và các kiến nghị. Trong các công trình nghiên cứu đó, XHHGD được xem như là một nhân tố mới trong sự nghiệp đổi mới giáo dục - đào tạo [7], là một con đường phát triển giáo dục.
Thực tiễn thực hiện XHHGD đã đặt ra nhiều vấn đề cả về cơ sở lý luận và các giải pháp thực tiễn cần làm sáng tỏ, những bài học kinh nghiệm cần được rút ra, phát hiện những vấn đề mới, nhân tố mới nhằm tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hoá giáo dục, đạt được những mục tiêu cơ bản đã được các Nghị quyết Đại hội VI,VII,VIII và IX của Đảng đề ra. Có thể điểm lại những công trình nghiên cứu chủ yếu về XHHGD đã có ở nước ta đến nay như sau: 1. Cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong sự nghiệp đổi mới” do Ban Khoa giáo Trung ương chủ biên và phát hành vào năm 1996 đã 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng về xã hội hoá công tác giáo dục, được coi là một trong những nhân tố mới trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo, nêu những kinh nghiệm, mô hình cụ thể về thực hiện xã hội hoá công tác giáo dục. Cuốn “Xã hội hoá công tác giáo dục” do Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công đoàn Giáo dục Việt Nam và Viện Khoa học Giáo dục phối hợp xuất bản năm 1997 là một sự tổng kết lý luận và kinh nghiệm từ thực tiễn sinh động của các địa phương trong cả nước, đồng thời đã trình bày khá đầy đủ các văn kiện của Đảng ta và một số văn bản pháp quy của Nhà nước ta về xã hoá giáo dục; cơ sở lý luận và thực tiễn của xã hội hoá công tác giáo dục cho đến thời điểm đầu năm 1997.
Cuốn sách “Xã hội hoá công tác giáo dục “Nhận thức và hành động” được Viện Khoa học Giáo dục phát hành vào năm 1999 có tác dụng như một cuốn sổ tay cần thiết và bổ ích cho các cán bộ quản lý các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể xã hội, các địa phương, các cơ sở giáo dục và toàn thể cộng đồng về một số vấn đề cơ bản nhất trong nhận thức và hành động nhằm thực hiện chủ trương XHHGD ở nước ta. Báo cáo chuyên đề “Nghiên cứu việc thực hiện các chủ trương của Đảng về giáo dục bằng con đường xã hội hoá” do PGS. Lê Khanh chủ trì thực hiện từ năm 1997 đến cuối năm 1999. Đề tài cấp Bộ “ Đánh giá tác động của các chính sách xã hội hoá giáo dục” (mã số B99-52-TĐ32 Bộ giáo dục- đào tạo- Viện nghiên cứu phát triển giáo dục).
Tổng kết chung tình hình thực hiện xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá đã được Ban Khoa giáo Trung ương chủ trì thực hiện, với sự tham gia của các bộ, ban, ngành có liên quan ở Trung ương nhằm phục vụ việc xây dựng các văn kiện của Đại hội IX và đã được trình bày trong Báo cáo trình Bộ Chính trị vào tháng 5-2000. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Báo cáo của Chính phủ về về tình hình thực hiện xã hội hoá trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao trình bày tại Hội nghị toàn quốc về công tác xã hội hoá được tổ chức vào hai ngày 28 và 29/12/2002 tại Hà Nội. Đề tài độc lập cấp nhà nước “Cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp xã hội hóa GD giai đoạn 2001-2010” do PGS.
Trần Quốc Toản chủ trì; Nhìn chung, các công trình nêu trên đã trình bày tương đối rõ nét những quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng và các giải pháp chính của Nhà nước ta đã thực hiện về XHH sự nghiệp giáo dục đến đầu năm 2003. Đó cũng là kết quả triển khai trong thực tiễn một số chủ trương mới thể hiện trong Nghị định 90/CP và Nghị định 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ về XHH. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến nền GDM và công tác XHHGD trong nền GDM. Mặt khác các công trình nghiên cứu được thực hiện đều hơn 10 năm trong một bối cảnh tình hình giáo dục và yêu cầu đối với sự phát triển giáo dục khác rất nhiều so với bối cảnh hiện nay.
Tuy vậy, nó không có một từ tương đương trong Anh ngữ. XHH (socialization) theo quan điểm xã hội học là quá trình tương tác, lan toả các chuẩn mực, các giá trị, các khuôn mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội. Từ điển Wikipedia cho rằng XHH là quá trình trong đó người ta từ khi còn ấu thơ bắt đầu có được các kỹ năng cần thiết để trở thành một thành viên năng động trong xã hội của họ, và là quá trình học tập có ảnh hưởng nhất mà một người có thể trải nghiệm. Chính từ những định nghĩa này mà nhiều học giả lúng túng với từ XHH một lĩnh vực xã hội nào đó.
Theo các nhà xã hội học ta có thể hiểu XHH một lĩnh vực nào đó, là quá trình tương tác, chà xát, lan tỏa các chuẩn mực, các 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giá trị, các khung mẫu, hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm xã hội trên lĩnh vực đó. Xã hội hoá giáo dục Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hóa giáo dục (XHHGD). Từ hai khái niệm XHH (theo quan điểm xã hội học), khái niệm giáo dục (theo quan điểm giáo dục học) nêu ở trên ta có thể hiểu xã hội hóa trên lĩnh vực giáo dục (XHHGD) là quá trình tương tác, lan tỏa các chuẩn mực, các giá trị, các khung hình mẫu, các hành vi xã hội giữa các cá thể và các nhóm cá thể trên lĩnh vực giáo dục. Định nghĩa này không được chuẩn xác, vì khoa học giáo dục khẳng định “giáo dục là một hình thái ý thức xã hội và là một hiện tượng xã hội, đặc thù, riêng của xã hội loài người.
Giáo dục là một hoạt động xã hội cơ bản và chuyên biệt. Giáo dục là một phương thức để đưa con người hòa nhập vào xã hội”. Vậy còn cần gì phải xã hội hóa giáo dục nữa. Giáo sư Phạm Phụ đã đề nghị nên định nghĩa XHHGD là huy động nguồn lực xã hội (societal mobilization) để phát triển giáo dục.
Định nghĩa này sát thực nhất với chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước. XHHGD là làm cho mọi người hiểu về giáo dục, giáo dục đến với mọi nhà, mọi người, làm cho mọi người được thụ hưởng thành quả của giáo dục, góp phần nâng cao dân trí, tạo ra một phong trào, một xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội, của đất nước, đồng thời mọi người có trách nhiệm tham gia giáo dục và làm cho giáo dục phát triển. Với nội hàm XHHGD được nêu trên, học viên nhận thấy khái niệm về XHHGD theo quan điểm của GS. Phạm Phụ là phù hợp và sẽ sử dụng để nghiên cứu trong luận văn này.
Nguồn lực doanh nghiệp Nguồn lực doanh nghiệp (DN) là một phần trong các nguồn lực xã hội. Nguồn lực xã hội là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, hệ thống chính trị, nguồn nhân lực, vốn và thị trường ở cả trong và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nhất định. Con người có thể làm thay đổi nguồn lực theo hướng có lợi. Nguồn lực DN bao gồm các yếu tố: nguồn nhân lực, tài sản vật chất, các nguồn lực vô hình, năng lực quản lý của doanh nghiệp, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của DN.
Dựa vào khái niệm trên, căn cứ vào phạm vi nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học thì ta có thể phân chia nguồn lực DN thành hai nhóm chính: - Nhóm nguồn lực vật chất bao gồm tài lực, vật lực ; - Nhóm nguồn lực phi vật chất là nhân lực, trí lực. Cả hai nhóm nguồn lực này đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển. Huy động các nguồn lực doanh nghiệp Huy động các nguồn lực DN: là bằng nhiều giải pháp và cách thức khác nhau tác động đến các chủ sở hữu các DN đóng góp nguồn lực của DN để phát triển giáo dục. Mục đích huy động các nguồn lực doanh nghiệp Huy động nguồn lực từ DN để thúc đẩy quá trình giáo dục và xây dựng các điều kiện thiết yếu phục vụ giáo dục ở nhà trường như: CSVC, trường lớp, đội ngũ quản lý, đội ngũ giảng viên và tham gia xây dựng đổi mới chương trình, tạo môi trường giáo dục trong sạch, lành mạnh thống nhất giữa nhà trường - gia đình - xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới của đất nước.
Các nguyên tắc chung khi triển khai huy động nguồn lực DN Công tác triển khai huy động nguồn lực DN để phát triển giáo dục đại học rất cần thiết phải đảm bảo ít nhất 06 nguyên tắc cơ bản chung để thực hiện được đúng mục tiêu phát triển giáo dục. Nguyên tắc về lợi ích: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.