đặt vấn đề về ảnh hưởng của vai trò của NN trong việc thúc đẩy MQH giữa trường ĐH - DN hay Viện nghiên cứu - DN. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả mới chỉ đưa ra được những đề xuất từ phía NN để giải quyết MQH giữa hai bên nhưng không trả lời được lý do tại sao NN phải tham gia và giải quyết các nội dung liên quan đến MQH 3 bên Viện nghiên cứu - trường ĐH - DN. Nghiên cứu cũng đưa ra 5 giải pháp đề xuất đối với NN, bao gồm: (i) tăng cường hiệu lực thực thi các chương trình, chính sách của NN; (ii) tuyên truyền về lợi ích của MQH này; (iii) tăng cường phổ biến thông tin về chính sách hỗ trợ DN của NN; (iv) Chia sẻ chi phí tiếp cận tín dụng và tư vấn cho DN; và (v) xây dựng các chương trình phát triển dài hạn về đầu tư đổi mới công nghệ. Cơ sở khoa học để đề xuất những giải pháp này hoàn toàn chỉ dựa trên ý kiến phản hồi của DN là chưa đủ vững chắc.
Nội dung các giải pháp còn quá chung chung và có nguy cơ vi phạm nguyên tắc NN không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Bên cạnh đó, nghiên cứu được thực hiện từ năm 2011 khi đó mức độ tự chủ của các trường ĐH còn chưa cao nên phân tích và các giải pháp đề ra vẫn bị hạn chế trong “khung pháp lý khá chật hẹp” về khả năng tự chủ, tự mở rộng quan hệ hợp tác với DN của các trường ĐH. Do đó, nhiều kênh thúc đẩy hợp tác đã được áp dụng ở các nước trên thế giới (như hợp đồng hợp tác, đầu tư qua quỹ mạo hiểm, thúc đẩy NC&CGCN theo đặt hàng của NN…) chưa được bàn đến cụ thể. Lê Hiếu Học và các cộng sự (2017), xây dựng bộ tiêu chí, khung phân tích đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết trường ĐH - DN.
Tuy nhiên, bộ tiêu chí này không thể thực hiện đo lường mối liên kết này tại Việt Nam khi số liệu thống kê không có đầy đủ. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố thúc đẩy, cản trở MQH này, nhưng việc phân tích các yếu tố này mới nhìn dưới góc độ tổ chức, quan hệ và nguồn lực của 5 trường ĐH có khối ngành kỹ thuật và các DN dựa trên nhu cầu của hai bên và chưa phân tích các yếu tố mong muốn/kỳ vọng của hai bên về nhau. Mặc dù tác giả có đề cập đến mô hình vòng xoắn 3 bên nhưng mô hình này chỉ mang tính định hướng, ứng dụng mà không lý giải được lý do phải có sự can thiệp của NN và NN sẽ phải can thiệp như thể nào để đảm bảo thúc đẩy MQH giữa ĐH - DN trong NC&CGCN. Về phạm vi nghiên cứu tại 5 trường đào tạo chủ yếu khối ngành kỹ thuật, các NCKH trong khối ngành rất dễ và thuận tiện trong việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, "khách hàng DN" của các trường kỹ thuật khá tập trung, lĩnh vực dịch vụ hàng hóa cung cấp cho DN tương đối cụ thể.
Vì vậy, các kết luận của nghiên cứu chỉ đại diện cho khối ngành kỹ thuật công nghệ mà chưa giải quyết đến các vấn đề của các trường có khối ngành đào tạo khác, những trường ĐH không thuận lợi cho hoạt động NC&CGCN. 15 Tổng quan các nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu về MQH giữa trường ĐH - DN trong NC& CGCN được tiếp cận dưới góc độ khác nhau nhưng đều thống nhất cho rằng MQH giữa trường ĐH - DN trong NC&CGCN là rất cần thiết, mang lại rất nhiều lợi ích cho trường ĐH, DN và xã hội. Mối quan hệ giữa trường ĐH - DN đã được nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo nhiều khía cạnh tại các ngữ cảnh khác nhau. Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu đều đứng từ góc nhìn riêng biệt để xem xét MQH, từ phía DN để xem xét nhu cầu đối với các dịch vụ NC&CGCN của trường ĐH, hoặc từ phía trường ĐH để xem xét nhu cầu được DN hỗ trợ, hợp tác.
Các nghiên cứu mới chỉ xem xét đến các rào cản xuất phát từ bên trong như nhận thức, địa lý, văn hóa, năng lực. mà chưa nghiên cứu các rào cản xuất phát từ bên ngoài các chủ thể mà chính các chủ thể này không thể hoặc không muốn giải quyết để thúc đẩy MQH này. Các nghiên cứu đều chưa trả lời được câu hỏi là chủ thể nào sẽ đứng ra để khắc phục những rào cản khách quan khi hai bên trường ĐH, DN không thể giải quyết được. Vì vậy, cần phải có một nghiên cứu sâu để chỉ ra vì sao trường ĐH, DN đều thấy được lợi ích của MQH nhưng MQH này vẫn không phát triển; MQH này bị ảnh hưởng bởi những rào cản nào, những rào cản nào trong MQH mà hai bên không thể giải quyết được, chủ thể nào sẽ đứng ra khắc phục rào cản đó và từ luận giải đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp mang tính tổng thể cho các chủ thể.
Các nghiên cứu về vai trò nhà nước nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa trường đại học - doanh nghiệp trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ 1. Các lý thuyết về vai trò của nhà nước Lý thuyết và thực tế về vai trò NN trong quản lý phát triển tại các quốc gia trên thế giới trong lịch sử đã trải qua nhiều thay đổi. Học thuyết “bàn tay vô hình” của A. Smith cho rằng: trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia đều muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình do đó “vô hình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng”.
Theo Adam Smith “chính quyền mỗi quốc gia không cần can thiệp vào cá nhân và DN, cứ để nó tự do hoạt động kinh doanh và vô hình chung hệ thống thị trường và cơ chế giá cả sẽ hoạt động một cách tự phát vì lợi ích của tất cả mọi người như thể có một bàn tay vô hình đầy thiện ý điều khiển toàn bộ quá trình xã hội và sự điều khiển tự phát này còn có hiệu quả hơn cả khi có ý định can thiệp hay điều khiển thị trường”. Quan điểm tôn trọng quy luật khách quan của thị trường này chỉ đúng với nền kinh tế thị trường thuần túy và thị trường của một vài hàng hóa thông thường. Học thuyết này không lý giải được các trường hợp thị trường hàng hóa đặc biệt, trường hợp thị trường gặp thất bại, không giải quyết những vấn đề mà các quốc 16 gia phải đối mặt như: sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, vấn đề thất nghiệp, vấn đề an sinh xã hội… Những vấn đề này sẽ không có một cá nhân, chủ thể hay một bàn tay vô hình nào giải quyết mà chỉ có thể là NN. Học thuyết “điều chỉnh kinh tế vĩ mô” của Keynes: Khác với học thuyết “bàn tay vô hình”, Keynes đánh giá cao “vai trò điều tiết của nhà nước và xem nhẹ cơ chế tự điều tiết của thị trường”.
Keynes “không tán đồng quan điểm của trường phái cổ điển và tân cổ điển về sự cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường”. Ông cho rằng “Nhà nước phải điều tiết ở tầm vĩ mô mới giải quyết được việc làm tăng thu nhập, khuyến khích đầu tư, giảm tiết kiệm và giải quyết được tình trạng khủng hoảng và thất nghiệp thúc đẩy kinh tế phát triển”. Tuy nhiên, sai lầm của Keynes là không tận dụng được quy luật khách quan của thị trường mà một trong những điểm nổi bật và ưu thế nhất của cơ chế thị trường đó là tạo cơ chế huy động, phân bổ nguồn lực, tạo động lực thúc đẩy sáng tạo và phát triển. Đây có thể được coi là cơ chế hiệu quả nhất hiện nay.
Học thuyết “kinh tế hỗn hợp” của P. Samuelson: Hạn chế được cả hai nhược điểm của trường phái A. Smith và Keynes, học thuyết “kinh tế hỗn hợp” cho rằng để “điều hành một nền kinh tế nếu thiếu chính phủ hoặc thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay”. Theo ông “một quốc gia để đảm bảo được ba tiêu chí cơ bản của nền kinh tế; hiệu quả, công bằng và ổn định, cách tốt nhất là phải hình thành nên một nền kinh tế hỗn hợp”.
Trong “nền kinh tế hỗn hợp” có cả thị trường lẫn chính phủ. “Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, trong khi đó chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trình thuế, chi tiêu, luật lệ. Cả hai bên thị trường và chính phủ đều có tính chất thiết yếu”. Nghiên cứu về vai trò của NN cùng được rất nhiều học giả như Joseph Stiglitz, Musgrave, James Buchanan… đề cập đến, từ những nghiên cứu mang tính kinh điển cho đến những nghiên cứu về vai trò của NN trong từng lĩnh vực cụ thể.
Nhìn chung, các nghiên cứu kinh điển đều thống nhất cho rằng NN là một tổ chức xã hội đặc biệt được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Các nghiên cứu cũng khẳng định, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NN được xác định bởi chế độ chính trị; tính chất, trình độ của mô hình kinh tế thị trường, các lý thuyết về vai trò NN trong nền kinh tế thị trường (Stiglitz, 1995; Rosen 2005) đều khẳng định NN phải tôn trọng và phát huy các quy luật khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các MQH kinh tế. Tuy nhiên, bản thân thị trường có những mặt hạn chế của nó - được gọi là khuyết tật hay thất bại của thị trường, khiến 17 quan hệ cung- cầu không hoàn toàn tạo ra được những vị thế cân bằng thị trường đúng như mức tối ưu mà xã hội mong muốn. Thất bại thị trường có những trường hợp chủ yếu như: (1) độc quyền thị trường là trường hợp khi thị trường chỉ do một hoặc một số ít các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ chi phối thị trường; (2) tác động ngoại lại xảy ra khi hành động của một đối tượng có ảnh hưởng đến phúc lợi của đối tượng khác mà ảnh hưởng này không được bồi thường hoặc khen thưởng (Pearce and Jeremy, 1993; McAfee and Stanley, 2006; (3) hàng hóa công là hàng hóa hoặc dịch vụ mà việc một cá nhân sử dụng không ngăn cản được cá nhân khác cùng đồng thời sử dụng hàng hóa đó; và (4) bất bình đẳng thông tin là việc một bên tham gia giao dịch trên thị trường có đầy đủ thông tin hơn bên kia.