Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về thực hiện chính sách công Trong những năm gần đây, có nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có các công trình nghiên cứu về thực thi chính sách công hay còn gọi là thực hiện chính sách công, điển hình là các tác giả: Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hoà và Lê Chi Mai. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hải (2016) cho rằng thực hiện chính sách là “quá trình biến các chính sách thành những kết quả trên thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước, nhằm hiện thực hoá những mục tiêu mà chính sách đề ra; là toàn bộ quá trình hoạt động của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hoá nội dung chính sách công một cách hiệu quả [37, tr. Tác giả Lê Văn Hoà (2016) cho rằng thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hoá mục tiêu chính sách công [40, tr.
Nhà nghiên cứu Lê Chi Mai (2017) cho rằng thực thi chính sách là giai đoạn biến các ý tưởng chính sách thành hiện thực nhằm đạt mục tiêu mong muốn, việc triển khai này sẽ làm bộc lộ những vấn đề cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung trong nội dung chính sách; đồng thời tác giả cũng chỉ ra một số bất cập trong thực thi chính sách hiện nay ở Việt Nam như: nhận thức của những người có trách nhiệm thực thi chính sách chưa rõ ràng, đầy đủ nên gặp lúng túng trong triển khai chính sách; chính sách ban hành chưa phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương hay bộ, ngành nên gặp khó khăn trong việc thực hiện; chưa chú trọng đến khâu lập kế hoạch thực thi; công tác phân công phối hợp kém hiệu quả; nguồn lực tài chính vừa thiếu vừa kém hiệu quả; thiếu sự theo dõi giám sát [51, tr. Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, trong những năm qua, nhiều tác giả đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ về thực hiện chính sách công ở cả cấp trung ương và cấp địa phương trong các lĩnh vực khác nhau như: xây dựng nông thôn mới; ứng phó với biến đổi khí hậu; bảo hiểm xã hội; giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Về thực hiện chính sách công trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, trong Luận án “Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay”, tác 11 giả Tô Trọng Mạnh (2020) đã chỉ ra rằng “Việc tổ chức hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới đóng vai trò quan trọng đối với khu vực nông thôn khi người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Việc thực hiện có hiệu quả chính sách này cũng nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quê hương, đất nước trong giai đoạn mới.
Công tác tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới sẽ ngăn ngừa việc thực hiện tự phát mỗi nơi làm theo một cách và hạn chế những khuyết điểm vốn có của nông thôn Việt Nam. Trên thực tế hiện nay, việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở nước ta vẫn còn tồn tại một số khó khăn hạn chế” [54, tr. Luận án đã đề xuất 11 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đến năm 2025, gồm: (1) Cơ chế chính sách; (2) Công tác quy hoạch chỉ đạo thực hiện chính sách; (3) Công tác phổ biến tuyên truyền; (4) Công tác phân công phối hợp thực hiện chính sách; (5) Huy động vốn và sử dụng vốn; (6) Phát huy nguồn lực sức mạnh và tiềm năng của vùng và địa phương; (7) Thúc đẩy sự tham gia của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân vào thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới; (8) Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác giám sát, đánh giá tình hình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới; (9) Hoàn thiện các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới; (10) Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) phục vụ thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới; và (11) Tăng cường hội nhập hợp tác quốc tế trong thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới. Trong Luận án “Thực hiện chính sách ứng phó biến đổi khí hậu từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Ngô Hoài Sơn (2021) đã đưa một số quan điểm sau về thực hiện chính sách này ở thành phố Hồ Chí Minh [71, tr.141]: (i) Quá trình thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố như phân cấp và mô hình tổ chức thực hiện; chính sách; bộ máy thực hiện; và sự tham gia của các tổ chức quan trọng như người dân, DN và tổ chức phi chính phủ có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách này.
(ii) Sự phân cấp thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu giữa Trung ương và thành phố Hồ Chí Minh còn hạn chế làm cho quá trình thực hiện ở địa phương bị ràng buộc bởi các văn bản chỉ đạo của Trung ương. Quá trình thực hiện chính sách còn mang nặng mô hình từ trên xuống dưới với rất ít sự chỉ đạo của thành phố. 12 Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp giúp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu tại thành phố Hồ Chí Minh gồm: (1) Thay đổi tư duy về ứng phó với biến đổi khí hậu; (2) Hoàn thiện cơ sở pháp lý và cơ chế chính sách; (3) Nâng cao năng lực hệ thống tổ chức thực hiện; (4) Tăng cường huy động nguồn lực; (5) Huy động sự tham gia của các bên liên quan; và (6) Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Trong Luận án “Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội từ thực tiễn tỉnh Thái Nguyên”, tác giả Ngô Thị Nhung (2022) đã chỉ ra rằng “Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động và gia đình họ.
Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội là một trụ cột chính lớn nhất không thể tách rời. Từ khi thành lập nước đến nay, nhà nước đã quan tâm thường xuyên đến thực hiện các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội đối với CBCC, quân nhân và người lao động thuộc các thành phần kinh tế” [55, tr. Tác giả đã phân tích và đánh giá về thực hiện chính sách ở tỉnh Thái Nguyên như sau: (i) Đối với việc thực hiện chính sách ở tỉnh Thái Nguyên, bên cạnh các kết quả được, quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách không tránh khỏi những tồn tại hạn chế làm cho những đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ở Thái Nguyên trong thời gian qua chiếm tỷ lệ còn thấp so với lao động thuộc diện tham gia; (ii) Việc hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội là hết sức cần thiết đòi hỏi sự nỗ lực không chỉ riêng của ngành bảo hiểm xã hội của tỉnh Thái Nguyên mà cần có sự vào cuộc của các Sở, Ban, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội và cả hệ thống chính trị. Tác giả đã đề xuất 8 giải pháp nhằm hoàn thiện thực hiện chính sách bảo hiểm y tế tỉnh Thái Nguyên, gồm (1) Hoàn thiện bộ máy làm công tác bảo hiểm xã hội ở tỉnh Thái Nguyên; (2) Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền chính sách về thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; (3) Thực hiện cơ chế thu bảo hiểm bắt buộc; (4) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội; (5) Tăng cường công tác phối kết hợp của các cơ quan quản lý nhà nước; (6) Đẩy mạnh đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, từng bước hiện đại hoá hệ thống quản lý bảo hiểm xã hội ở tỉnh Thái Nguyên; (7) Nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm; (8) Mở rộng mạng lưới và đào tạo các đại lý bảo hiểm xã hội tự nguyện.
13 Về lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có Luận án của các tác giả: Nguyễn Mạnh Quân (2021), Trần Minh Đức (2021), Phạm Thị Diễm (2021). Tác giả Nguyễn Mạnh Quân (2021) trong Luận án Tiến sĩ “Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã ở thành phố Hà Nội” cho rằng “Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã không phải một sớm một chiều làm được hay chỉ qua đào thải, tuyển dụng mới mà phải thông qua đào tạo, bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho họ. Vì vậy, đối với các huyện ngoại thành Hà Nội việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Thành Ủy, UBND thành phố, các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp ở địa phương quan tâm” [57, tr.