Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN BẢO TÀNG THIÊN NHIÊN VIỆT NAM 1. Những vấn đề chung về hợp tác quốc tế 1. Các khái niệm cơ bản Hợp tác: Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010 hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung”, còn quốc tế là “các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau” [24, tr. Như vậy, có thể hiểu hợp tác quốc tế là hành vi các chủ thể quan hệ quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau.
Đặc điểm cơ bản của hợp tác quốc tế là có 2 chủ thể tham gia trở lên và có sự tham gia của yếu tố quốc tế. Trong phạm vi hợp tác của Viện nghiên cứu, hợp tác quốc tế là hoạt động chủ thể thuộc một Viện nghiên cứu với chủ thể thuộc quốc gia khác nhằm mục đích đáp ứng nguyện vọng của nhau. Hay nói một cách khác hợp tác quốc tế Viện nghiên cứu là những hoạt động có sự kết hợp giữa cá nhân/tập thể của viện nghiên cứu với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhằm thực hiện những nội dung mà hai bên thỏa thuận [23, tr. Hợp tác quốc tế: Hợp tác quốc tế là một hình thức tương tác trong quan hệ quốc tế.
Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế, tức là trong đó bạo lực được loại ra. Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực. Về mặt kết quả, sự hợp tác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là hoặc cùng được, hoặc cùng không thỏa mãn… Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), dựa vào các đặc trưng trên có thể đưa ra khái niệm chung cho hợp tác quốc tế như sau: “Hợp tác quốc tế là 10 sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung” [14, tr.
Chế tác mẫu động vật: là sự phục dựng lại các xác động vật đã chết thành mẫu vật trông giống như lúc còn sống để phục vụ công tác nghiên cứu, trưng bày. Mẫu sau khi chế tác phải thể hiện được thần thái, tư thế của chúng sao cho như thật, giúp người xem có cảm giác như đang thấy chúng ngoài tự nhiên. Các xác động vật đã chết nếu không có bàn tay khéo léo của các nghệ nhân chế tác thì chỉ là phế liệu, vậy mà các nghệ nhân đã dựng lại được các mẫu động vật quý, hiếm như hổ, tê giác, voi, chim. để lưu giữ, trưng bày tại Bảo tàng phục vụ công tác nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền và quảng bá nhằm nâng cao ý thức của cộng đồng tình yêu thiên nhiên, môi trường, đất nước, con người VN.
Thiết kế trưng bày: là thiết kế cách thức và quy cách sắp xếp, trưng bày các mẫu đã được chế tác sao cho phù hợp với kịch bản trưng bày. Nghiên cứu khoa học: Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013), Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Babbie (1986), nghiên cứu khoa học (scientific research) là cách thức: (1) Con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống; và (2) Là quá trình áp dụng các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra các kiến thức mới nhằm giải thích các sự vật hiện tượng [13, tr. Theo Armstrong và Sperry (1994), nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản 11 chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn [1, tr.10] Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới.
Kết quả của nghiên cứu khoa học tạo ra những ứng dụng cho thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ xã hội. Hoạt động nghiên cứu khoa học được phân loại tùy lĩnh vực học thuật và ứng dụng. Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của các cơ sở học thuật.
Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, để phát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế tự nhiên và xã hội [19, tr. Đào tạo nguồn nhân lực: Đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện hiểu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn. Mục tiêu, động lực và nguyên tắc hợp tác quốc tế về KH&CN Hợp tác quốc tế thực sự rất cần thiết đối với sự phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam.Việc mở cửa trong lĩnh vực khoa học và công nghệ của các quốc gia đặt ra yêu cầu cho các Viện nghiên cứu phải triển khai và phát triển hoạt động hợp tác quốc tế.
Xu hướng toàn cầu hóa và sự bùng nổ của khoa học công nghệ đã và đang thúc đẩy nền khoa học của mỗi quốc gia đổi mới không ngừng, đặc biệt là hội nhập quốc tế để cập nhật nhanh chóng những xu thế mới, tri thức mới. Trong một thế giới không ngừng biến đổi với 12 các thách thức ngày càng tăng, trọng trách nặng nề của mỗi quốc gia là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao để thích ứng, tồn tại và phát triển ở môi trường cạnh tranh khốc liệt. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đó, các Viện nghiên cứu cần có năng lực mang tính toàn cầu với những mối quan hệ có tính chất quốc tế dưới nhiều hình thức. Để có thể phát triển phù hợp với xu hướng phát triển khoa học hiện đại trên thế giới, đồng thời kéo gần khoảng cách giữa khoa học Việt Nam và thế giới đặt ra yêu cầu cho các Viện nghiên cứu tại Việt Nam phải biết nắm bắt cơ hội hợp tác quốc tế để cọ xát, cạnh tranh, tự đánh giá năng lực của mình và có động lực phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ.
Điều này được thể hiện rõ tại Điều 46 và Điều 47 của Luật Khoa học và Công nghệ về phát triển hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ và khuyến khích hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ: Nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ; tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân Việt Nam hợp tác về khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, các tổ chức quốc tế; tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi. Nhà nước có chính sách thu hút trí thức là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các chuyên gia giỏi của thế giới tham gia phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam. Tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ của Việt Nam được nhận tài trợ, tham gia tổ chức khoa học và công nghệ, hội khoa học và công nghệ, tham gia hoạt động nghiên cứu, đào tạo, tư vấn, hội nghị khoa học và công nghệ của tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài; hợp tác thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Việt Nam ở nước ngoài [21, tr. 13 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài được lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ; được đóng góp xây dựng các quỹ phát triển khoa học và công nghệ của Việt Nam quy định tại các điều 39, 40 và 41 của Luật này.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp tác phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam được Nhà nước khuyến khích, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp. Định hướng phát triển khoa học và công nghệ theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chứa đựng nhiều điểm mới, toàn diện và sâu sắc, trong đó có nội dung phát triển khoa học, công nghệ, làm cơ sở cho quá trình hoạch định chủ trương, đường lối lãnh đạo sự nghiệp đổi mới giai đoạn 2016 - 2020 và những năm tiếp theo. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (20-28/01/2016) thông qua có những nhận định, đánh giá về KH&CN: “Trong những năm qua, khoa học, công nghệ đã có những đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội trên tất cả các lĩnh vực.
Khoa học xã hội và nhân văn góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; khẳng định lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, bảo tồn các giá trị và bản sắc văn hóa Việt Nam. Lĩnh vực khoa học tự nhiên, các ngành khoa học cơ bản, KH&CN liên ngành, khoa học mới tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Một số ngành khoa học, công nghệ mũi nhọn đã có đóng góp tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh. Hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ có chuyển biến; tiềm lực khoa học, công nghệ được nâng lên.
Quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ có đổi 14 mới. Hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ có bước tiến bộ. Thị trường khoa học, công nghệ đã hình thành và bước đầu phát huy tác dụng [26, tr.