CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các thuật ngữ khoa học 1. Văn hóa, giá trị và giá trị văn hóa - Văn hóa Văn hóa có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia, dân tộc.
Văn hóa không chỉ là lĩnh vực văn hóa VT và văn hóa PVT mà còn là đời sống lao động, sáng tạo, gắn với phương thức tổ chức đời sống của xã hội loài người. Văn hóa vừa nhân tố bản chất bên trong vừa là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển con người của nền sản xuất xã hội và của hình thức tổ chức, tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Có thể nói, văn hóa là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Văn hóa trong tiếng Anh và tiếng Pháp đều là Culture, với mỗi ngôn ngữ khác nhau có các viết khác nhau, vì vậy cũng có rất nhiều khái niệm có tính nội hàm hết sức khác nhau.
Hiện nay, trong nước và trên thể giới có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ “Văn hóa”, tùy vào hướng nghiên cứu và góc độ tiếp cận các nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm cho phù hợp. Tất cả các khái niệm không phủ định lẫn nhau mà có tính bổ sung cho nhau, hay kế thừa trên nền tảng những khái niệm của những nhà nghiên cứu đi trước. Một trong những khái niệm đầu tiên về văn hóa không thể không kể đến là khái niệm của E. Tylor (1871) nhà Nhân học người Anh: “Văn hóa, hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật Pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác của con người được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” (E.
… Năm 2001, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp Quốc (gọi tắt là UNESCO) đã nêu định nghĩa văn hóa: “Văn hoá là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và cảm xúc của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin” (Unesco, 2009, tr. 14 Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau. Tác giả Phan Ngọc đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hau một tộc người với cá thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của mỗi cá nhân hay tộc người, khác các kiển lựa chọn của các cá nhân hay tộc người khác” (Phan Ngọc.
Định nghĩa này không chỉ xét mặt bên ngoài của văn hóa mà biểu hiện của nó chính là sự lựa chọn, mỗi cộng đồng, dân tộc lựa chọn khác nhau tạo nên sự khác biệt, có tính đại diện. Theo tác giả Lý Tùng Hiếu: “Văn hóa là tất cả những hoạt động, sản phẩm và giá trị VT và PVT do con người sáng tạo và được các thế hệ con người chấp nhận, tuân thủ, phổ biến, lưu truyền, giúp phân biệt con người với tự nhiên, và phân biệt tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác” (Lý Tùng Hiếu, 2017, 26). Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng có định nghĩa giúp cho nhà nghiên cứu văn hóa học có thể nhận diện và phân biệt văn hóa: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội" (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr. Có thể nói, các định nghĩa nêu trên đều muốn đề cập đến đó là chính là những giá trị do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau ở mỗi nền văn hóa.
Đặc biệt trong phạm vi nghiên cứu về DSVH thì di sản cũng chính là hoạt động văn hóa chứa đựng những giá trị vật chất và tinh thần được con người tích lũy và sáng tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của văn hóa. Năm 1943, Người nêu lên tổng quát về văn hóa, Người cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Hồ Chí Minh, 2011, tr448).
15 Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Chính vì vậy, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chủ tịch đã từng nhắc đến nguyên lý “Văn hóa soi đường quốc dân đi”, đồng thời khẳng định: “Văn hóa có liên lạc với chính trị rất mật thiết. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân”. Qua đó xác định vai trò của văn hóa trong đời sống tinh thần của xã hội.
Văn hóa có vai trò định hướng nhận thức, tư tưởng và gắn liền với sự nghiệp xây dựng con người và là động lực của sự phát triển của đất nước. - Giá trị, giá trị văn hóa Thuật ngữ “Giá trị” được sử dụng rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày khi đánh giá về lợi ích và mức độ cần thiết của một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội của con người. Nghiên cứu về định nghĩa giá trị đã được thực hiện từ khoảng thế kỷ XVIII, không chỉ ở Việt Nam và ở tất cả các nước trên thế giới ở nhiều ngành khoa học khác nhau. Tuy nhiên, giá trị ở mỗi ngành sẽ định nghĩa khác nhau.
Ở Việt Nam, giá trị cũng đã được định nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt, theo đó giá trị là: “cái làm cho một vật có ích, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó”. (Viện Ngôn ngữ, 2003, tr. 386) Như vậy, giá trị là thước đo độ có ích của một vật ở một khía cạnh nào đó. Độ có ích càng cao tỷ lệ thuận với độ giá trị của một vật đối với đời sống con người.
Con người là chủ thể định giá và vật có ích là khách thể được định giá, con người vừa đóng vai trò là chủ thể hưởng thụ lợi ích từ vật được đính giá. Độ có ích hay giá trị của một vật còn được định giá tùy thuộc vào nhu cầu của chủ thể hưởng thụ các giá trị do vật được định giá mang lại. Trong một công trình nghiên cứu, tác giả Ngô Đức Thịnh đã nêu ra định nghĩa giá trị như sau: Giá trị là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về bất cứ hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái đó là cần, là tốt, là hay, là đẹp, nói theo cách của các nhà triết học phương Tây một thời, đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người. Một 16 khi những nhận thức giá trị ấy đã hình thành và định hình thì nó chi phối các suy nghĩ, niền tin, hành vi, tình cảm của con người.
(Ngô Đức Thịnh, 2010, tr.20) Trong công trình nghiên cứu “Hệ Giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” được xuất bản năm 2016, tác giả Trần Ngọc Thêm nêu ra rất rõ, qua đó, giá trị được định nghĩa như sau: “Giá trị là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tích cực xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong một bối cảnh không gian – thời gian cụ thể.” (Trần Ngọc Thêm, 2016, tr.39) Giá trị theo tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra là sản phẩm của quá trình con người đóng vai trò chủ thể đánh giá. Đặt sự vật được trong tương quan so sánh giữa các khách thể cùng loại trong cùng hệ tọa độ không gian, thời gian và chủ thể văn hóa, kết quả của quá trình đánh giá chính là giá trị của sự vật. Từ định nghĩa giá trị, có thể thấy giá trị văn hóa là một khía cạnh nghiên cứu về giá trị. Giá trị văn hóa là giá trị hướng tới cái đúng, cái tốt đẹp được phản ánh trong các nguyên tắc và chuẩn mực về phương diện pháp lý, đạo lý và thẩm mỹ cá nhân và cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và trở thành khuôn mẫu trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn.
Giá trị văn hóa (cultural value) do con người ở mỗi xã hội nhất định sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hóa đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy. Nó cũng chính là một thứ vốn xã hội. Ở cấp độ quốc gia, dân tộc, giá trị văn hóa giữ một vị thế hết sức quan trong trong đời sống xã hội của con người. Giá trị văn hóa thường thấm sâu vào trong nhận thức, tư tưởng của con người.
Giá trị văn hóa mang tính chuẩn mực, vì thế có tính chất định hướng hành vi của con người. Mang tính tương đối và dựa trên đánh giá chủ quan của con người ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau sẽ định hình hệ thống thang đo giá trị và giá trị văn hóa khác nhau. Di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy - Di sản văn hóa Theo từ điển Bách khoa Văn hóa học: 17 “DSVH là những hình thái văn hóa tương đối bất biến, tạo nên những truyền thống văn hóa, những hiện tượng “nghệ thuật thuần túy”, “khoa học thuần túy”, triết học, những giá trị đạo đúc, tôn giáo, những sản phẩn của phát triển văn hóa “thuần túy”. Nằm trong này có cả những mô hình văn hóa “cao cấp”, “thượng lưu”, chỉ phổ biến trong phạm vi tương đối hẹp những người có trình độ.
Chính những thành phần ổn định này tạo nên phần chính yếu của DSVH – có nghĩa sự sản xuất, bảo quản và gìn giữ chúng trong quá trình phát triển lịch sử của văn hóa” (A. Radugin – Vũ Đình Phòng (dịch), 2001, 106).