phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: 14 - Chƣơng 1: Quá trình hình thành và phát triển hệ thống bảo tàng công lập ở TP. HCM trƣớc đổi mới năm 1986. - Chƣơng 2: Hệ thống bảo tàng công lập tại TP. HCM trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2019).
- Chƣơng 3: Những thành tựu, hạn chế của hệ thống bảo tàng công lập tại TP. HCM trong thời kỳ đổi mới. 15 CHƢƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BẢO TÀNG CÔNG LẬP Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ TRƢỚC ĐỔI MỚI NĂM 1986 1. Các khái niệm - Khái niệm Bảo tàng Trên thế giới, các quốc gia thƣờng rất chú trọng phát triển bảo tàng nhằmquảng bá lịch sử - văn hóa của mỗi quốc gia.
Do đó, ngay từ thời cổ đại, thuật ngữ “bảo tàng” đã xuất hiện và đƣợc viết theo tiếng Hy Lạp cổ là Museion. Theo ngƣời Hy Lạp, Museion nghĩa là nơi thờ nữ thần Musé - một vị thần bảo hộ cho nghệ thuật và thơ ca (Kaulen M. Thuật ngữ “bảo tàng” theo tiếng Anh (museum) xuất hiện vào thế kỷ XVI ở Thành phố Florence của nƣớc Ý. Ở thành phố này, thuật ngữ museum lần đầu tiên đƣợc sử dụng để chỉ sƣu tập của Medichi (Gary Edson and David Dean, 2001, tr.
Gia đình Medichi yêu thích và rất am hiểu về nghệ thuật. Tuy nhiên, các sƣu tập của dòng họ này “không chỉ bao gồm các tác phẩm nghệ thuật mà còn có cả vũ khí, các đồ trang sức, những vật quý hiếm, những công cụ khoa học…” (Kaulen M. Mặc dù gọi là bảo tàng (museum) nhƣng thực chất chỉ là phòng tranh (gallery), nơi trƣng bày các sƣu tập của Medichi. Có lẽ vì vậy mà có ý kiến cho rằng, đó chỉ là “cơ quan tiền bảo tàng” (Kaulen M.
Đến thế kỷ XVII, thuật ngữ “bảo tàng” đƣợc sử dụng ở Anh, vào dịp tổ chức khánh thành bảo tàng đầu tiên trên thế giới mở cửa đón khách tham quan vào năm 1863. Bảo tàng Ashmolean ở Oxford và “đƣợc xem là một trong những bảo tàng công cộng đầu tiên” (Gary 16 Edson and David Dean, 2001, tr. Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo tàng: Theo định nghĩa của Liên hiệp Hội Bảo tàng Anh: “Bảo tàng là một cơ quan thu nhận, lập hồ sơ (tƣ liệu), bảo tồn, trƣng bày và giới thiệu những bằngchứng vật chất và những thông tin đi kèm với nó vì lợi ích của xã hội”(Cục Di sản văn hóa, 2012, tr. Hiệp hội các bảo tàng Mỹ cho rằng: “Bảo tàng là một cơ quan đƣợc thành lập hợp thức, hoạt động lâu dài và không có lợi nhuận, không chỉ nhằm mục đích thực hiện trƣng bày đƣơng đại, đƣợc miễn thuế thu nhập quốc gia và liên bang, mở cửa đón công chúng và hoạt động theo hƣớng quan tâm của công chúng” (Cục Di sản văn hóa, 2012, tr.
Tuy nhiên, để có sự thống nhất chung về cách hiểu, Hội đồng Bảo tàng Quốc tế ICOM (The International Council of Museums) đã xây dựng định nghĩa về bảo tàng (museum) lần đầu tiên tại Đại hội thành lập Hội đồng Bảo tàng Quốc tế năm 1946. ICOM cho rằng “Bảo tàng là bao gồm tất cả các sƣu tập trƣng bày phục vụ công chúng: các hiện vật về nghệ thuật, kỹ thuật, khoa học, lịch sử, khảo cổ học và kể cả những vƣờn thú, vƣờn thực vật, không tính đến thƣ viện, ngoại trừ những thƣ viện có phòng trƣng bày thƣờng trực”. Qua thời gian, để phù hợp với bối cảnh và sự phát triển của xã hội, định nghĩa về bảo tàng đƣợc Hội đồng Bảo tàng Quốc tế ICOM thƣờng xuyên cập nhật và sửa đổi, cụ thể: Năm 1951: Từ “bảo tàng” dùng để chỉ mọi thiết chế thƣờng trực, hoạt động vì mục tiêu chung nhằm giữ gìn, nghiên cứu, phát huy giá trị bằng mọi hình thức, đặc biệt, là trƣng bày giới thiệu đến công 17 chúng vì nhu cầu giải trí các hiện vật và mẫu vật có giá trị văn hóa: các sƣu tập nghệ thuật, lịch sử, khoa học và kỹ thuật, các vƣờn động, thực vật và bể cá. Các thƣ viện công cộng, các kho lƣu trữ công cộng có phòng trƣng bày thƣờng trực để có thể đƣợc coi là bảo tàng (Nguyễn Đình Thanh (chủ biên), 2007, tr.
Năm 1974, trong Điều 2, phần 1, Quy chế của ICOM, định nghĩa về bảo tàng đƣợc sửa đổi theo hƣớng khoa học hơn, phù hợp với thực tiễn hơn: “Bảo tàng là một thiết chế thƣờng trực phi lợi nhuận, phục vụ xã hội và sự phát triển của xã hội, sƣu tầm, bảo quản, nghiên cứu và giới thiệu những bằng chứng vật chất của con ngƣời và môi trƣờng của nó vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thƣởng thức” (Nguyễn Đình Thanh (chủ biên), 2007, tr. Năm 1995, ICOM cho rằng: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận hoạt động lâu dài, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội, mở cửa cho côngchúng đến xem, có chức năng sƣu tầm, bảo quản, nghiên cứu, giới thiệu và trƣng bày các bằng chứng vật chất về con ngƣời và môi trƣờng sống của con ngƣời vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thƣởng thức” (Nguyễn Đình Thanh (chủ biên), 2007, tr. Năm 2004, tại kỳ họp thứ 20 của ICOM tại Hàn Quốc, định nghĩa về bảo tàng cũng đƣợc thông qua: “Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt độngthƣờng xuyên, mở cửa đón công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và sự phát triển của xã hội. Bảo tàng sƣu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trƣng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con ngƣời và môi trƣờng của con ngƣời vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thƣởng thức” (Nguyễn Thị Huệ (chủ biên), 2010, tr.
Năm 2007, theo Quy chế ICOM, định nghĩa về bảo tàng đƣợc Đại hội đồng lần thứ 22 tại Vienna, Áo, thông qua vào ngày 24 18 tháng 8 nhƣ sau: “Bảo tàng là một tổ chức phi lợi nhuận, vĩnh viễn phục vụ xã hội và sự phát triển của nó, mở cửa cho công chúng, nơi thu nhận, bảo tồn, nghiên cứu, truyền đạt và trƣng bày các di sản vật thể và phi vật thể của nhân loại và môi trƣờng của nó cho mục đích giáo dục, học tập và tận hƣởng” (Cục Di sản Văn hóa, Nguyễn Thị Thu Hƣơng dịch, 2010, tr. Ở Việt Nam, bên cạnh sử dụng định nghĩa của ICOM về bảo tàng, trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 đƣa ra khái niệm về bảo tàng nhƣ sau: “Bảo tàng là thiết chế văn hóa có chức năng sƣu tầm,bảo quản, nghiên cứu, trƣng bày, giới thiệu di sản văn hóa, bằng chứng vật chất về thiên nhiên, con ngƣời và môi trƣờng sống của con ngƣời nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hƣởng thụ văn hóa của công chúng”. (Luật Di sản Văn hóa, 2009, tr. Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo tàng, nhƣng qua các định nghĩa cho thấy, bảo tàng là một thiết chế văn hoá đặc thù, một cơ quan văn hoá, khoa học và giáo dục.
Đối tƣợng nghiên cứu, giới thiệu của bảo tàng là những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cùng môi trƣờng xung quanh con ngƣời. Các hoạt động của bảo tàng là nghiên cứu, sƣu tầm, bảo quản, gìn giữ và trƣng bày giới thiệu các sƣu tập hiện vật về lịch sử xã hội, tự nhiên và thông tin của sƣu tập phục vụ các nhu cầu nghiên cứu, học tập và hƣởng thụ văn hoá của công chúng. Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển đã và đang diễn ra sự phát triển mạnh mẽ của tri thức khoa học, bảo tàng ngày càng khẳng định đƣợc vị thế của mình trong sự phát triển xã hội. Do đó, khái niệm về bảo tàng hiện naycũng có phần đƣợc mở rộng và đa dạng hơn.
Thông thƣờng bảo tàng sẽ đƣợc hiểu là nơi có không gian trƣng 19 bày trong và ngoài bảo tàng, không gian bảo quản và xử lý hiện vật, không gian dành cho các thiết bị kỹ thuật, không gian dành cho các cán bộ chuyên môn và cán bộ hành chính làm việc. Đến nay, bảo tàng đã mở rộng hơn về không gian, tùy thuộc vào nhu cầu của công chúng tham quan bảo tàng và mục đích phục vụ xã hội, sẽ có thêm không gian dành cho các loại hình dịch vụ phục vụ khách tham quan, đó là các cửa hàng lƣu niệm phục vụ chuyến tham quan bảo tàng, từ đó khách tham quan có thêm thông tin về hoạt động của bảo tàng, về hiện vật sƣu tập tại bảo tàng, hay các dịch vụ phục vụ đồ ăn, thức uống cho khách tham quan. Từ đó, bảo tàng có thêm nguồn thu để phục vụ trở lại cho chính sự phát triển của bảo tàng;ngoài ra bảo tàng cần có thêm không gian dành cho các hoạt động giao tiếp cộng đồng, sự trình diễn của các chủ thể sáng tạo các giá trị văn hoá mới, và có không gian khám phá dành cho học sinh, cho ngƣời khuyết tật. Khái niệm hệ thống: Theo Từ điển tiếng Việt: “Hệ thống là tập hợp những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau, thứ tự sắp xếp có quy củ, liên tục” (Nguyễn Lân, 2000, tr.
Hệ thống bảo tàng: Theo Luật di sản Văn hóa: “Hệ thống bảo tàng bao gồm bảo tàng công lập và bảo tàng ngoài công lập. Bảo tàng công lập bao gồm: bảo tàng quốc gia; bảo tàng chuyên ngành thuộc bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng; bảo tàng chuyên ngành thuộc các đơn vị trực thuộc bộ, ngành, tổchức chính trị - xã hội ở trung ƣơng; bảo tàng cấp tỉnh. ” (Luật Di sản Văn hóa năm 2001 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009, tr. Bảo tàng công lập: có thể hiểu BTCL là những bảo tàng do Nhà 20 nƣớc quản lý, cấp kinh phí cho bảo tàng hoạt động, quy chế về tổ chức và hoạt động của bảo tàng do Bộ trƣởng BVHTT&DL ban hành.
Các bảo tàng công lập hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật và các chính sách, chế độ của Nhà nƣớc về hoạt động của văn hóa. Các bộ, các cơ quan ngang bộ, các đoàn thể ở trung ƣơng, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW quản lý các bảo tàng trực thuộc. Theo đó, BVHTT&DL quản lý một số bảo tàng quốc gia nhƣ: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh. Các bảo tàng cấp tỉnh, thành phố hay bảo tàng khu vực do chính quyền địa phƣơng quản lý, những hoạt động bằng ngân sách thông qua sự nghiệp văn hóa địa phƣơng tỉnh, thành phố… 1.