CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái quát về chuỗi cung ứng 1.1 Các khái niệm liên quan Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các tổ chức, con người tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp tới việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến việc chuyển đổi các nguyên nhiên vật liệu và các thành phần thành một sản phẩm hoàn chỉnh để giao cho người tiêu dùng cuối cùng. Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng: Theo Lambert và công sự (1998), chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường. Theo Assey Mbang Janvier-James (2012), chuỗi cung ứng là nhóm các nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối, nhà bán lẻ, vận chuyển, cung cấp dịch vụ quản lý thông tin và hậu cần khác được tham gia trong việc cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng.
Một chuỗi cung ứng bao gồm cả các liên kết bên ngoài và nội bộ cho các công ty. Theo Hội đồng chuỗi cung ứng (2010), chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Theo Sunil Chopra và Peter Meindl (2001), chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.
Theo Hồ Tiến Dũng (2009), chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay một dịch vụ cho khách hàng từ khâu sản xuất và phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng.1: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn: Hồ Tiến Dũng (2009), Quản trị điều hành) Trong mô hình chuỗi cung ứng điển hình như hình 1.1, chúng ta thấy chuỗi cung ứng đơn giản sẽ có ít thực thể tham gia, nhưng với các chuỗi cung ứng phức tạp số thực thể tham gia sẽ rất lớn. Như thế chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy chỉ có một nguồn tạo ra lợi nhuận duy nhất cho toàn chuỗi đó là người sử dụng cuối cùng. Khi các thành viên riêng lẻ trong chuỗi cung ứng đưa ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi cung ứng, sẽ dẫn đến giá bán sản phẩm cho khách hàng cuối cùng sẽ rất cao, mức phục vụ của chuỗi cung ứng thấp và nhu cầu của khách hàng tiêu dùng cuối cùng có thể sẽ giảm xuống. Cùng với các doanh nghiệp chính tham gia trong chuỗi cung ứng, có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến chuỗi cung ứng, và họ đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối sản phẩm đến khách hàng.
Đó là các nhà cung cấp dịch vụ, như các công ty vận tải đường không, đường bộ, đường sắt và đường thủy, các công ty cung cấp hệ thống thông tin, các công ty kinh doanh kho bãi. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này đặc biệt hữu ích đối với các doanh nghiệp chính tham gia trong chuỗi cung ứng, vì doanh nghiệp có thể mua sản phẩm ở nơi họ cần, các doanh nghiệp có thể phục vụ được các thị trường ở xa khu vực trung tâm, việc giao tiếp một cách hiệu quả giữa người mua và người bán giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận tải nội địa và quốc tế, và các doanh nghiệp phục vụ khách hàng tốt nhất với chi phí thấp nhất có thể. Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động có liên quan với nhau từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm, cung cấp cho khách hàng cuối cùng. Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho 7 tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu đó là: thiết lập mối liên kết với nhà cung cấp và khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp vì họ là người có tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Theo Assey Mbang Janvier-James (2012), quản trị chuỗi cung ứng bao gồm các thiết kế và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến việc tìm nguồn cung ứng và thu mua, chuyển đổi, và tất cả các hoạt động quản lý hậu cần.
Nó cũng bao gồm sự phối hợp và hợp tác với các đối tác có thể là nhà cung cấp, trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba và khách hàng. Về cơ bản, quản lý chuỗi cung ứng phối hợp cung cấp và quản lý nhu cầu trong và giữa các công ty. Theo Michael Hugos (2006), quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên của chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn đang phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả nhất. Theo Simchi-Levi và cộng sự (2000), quản lý chuỗi cung ứng đề cập đến một tập hợp các phương pháp được sử dụng để phối hợp có hiệu quả các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho chứa, và các cửa hàng, vì vậy hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đến địa điểm chính xác, và vào đúng thời điểm, để giảm chi phí hệ thống trong khi yêu cầu cấp dịch vụ đáp ứng.
Theo Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2011), quản trị cung ứng là chuỗi hoạt động phức tạp, trong đó các nhà quản trị tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động của tổ chức diễn ra liên tục, nhịp nhàng và hiệu quả. Nói cách khác, quản trị cung ứng là tổng hợp các hoạt động hoạch định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động cung ứng của đơn vị nhằm đạt mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Hồ Tiến Dũng (2009), quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông tin và nguyên vật liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được 8 các yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả ở thời điểm hiện tại và trong tương lai.2 Các thành phần cơ bản trong cấu trúc chuỗi cung ứng Mô hình SCOR (Supply Chain Operations Research) của hội đồng cung ứng: Hình 1.2: Năm hoạt động chính trong quản trị chuỗi cung ứng (Nguồn: mô hình nghiên cứu hoạt động chuỗi cung ứng- SCOR, Supply chain council Inc.) Theo mô hình SCOR (Supply Chain Operations Research) 2001 của hội đồng cung ứng (Supply Chain Council) có 5 thành phần cơ bản trong cấu trúc chuỗi cung ứng: lập kế hoạch, cung ứng nguyên vật liệu, sản xuất, phân phối, thu hồi. Trong nghiên cứu của đề tài, với mục tiêu là nghiên cứu chuỗi cung ứng tại một doanh nghiệp thương mại, không sản xuất sản phẩm nên tác giả thay hoạt động sản xuất bằng hoạt động tổ chức bán hàng và sắp xếp theo trình tự thể hiện quy trình hoạt động của chuỗi cung ứng: lập kế hoạch, mua hàng và tồn kho, tổ chức bán hàng, phân phối, thu hồi.1 Lập kế hoạch Thực hiện lập kế hoạch là quá trình cơ bản trong suốt chiều dài của chuỗi cung ứng.
Mục đích của việc lập kế hoạch là cân đối nhu cầu của khách hàng với khả năng cung cấp của doanh nghiệp. Việc lập kế hoạch bao gồm kế hoạch kinh doanh, kế hoạch thu mua, kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính, kế hoạch tồn kho. Để việc lập kế hoạch được thực hiện tốt thì cần phải có nguồn thông tin dự báo đáng tin cậy được cung cấp từ phòng kinh doanh, bộ phận nghiên cứu thị trường, hoặc từ những chia sẻ của khách hàng. Doanh nghiệp đánh giá các nguồn lực tổng cung và tổng nhu cầu để phát triển một kế hoạch đồng bộ hóa và tối ưu hóa sản 9 xuất, hàng tồn kho, phân phối.
Điều này giúp cho doanh nghiệp phát triển một kế hoạch mà có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng. Thông thường có hai phương pháp lập kế hoạch: kế hoạch theo yêu cầu từ khách hàng và kế hoạch với sự hợp tác từ khách hàng. Kế hoạch theo yêu cầu từ khách hàng: để có thể giảm chi phí tồn kho sản phẩm, chi phí hoạt động, doanh nghiệp cần dự báo trước các nhu cầu về hàng hóa trong tương lai. Thông tin dự báo sẽ được thu thập bởi bộ phận nghiên cứu thị trường hay bộ phận bán hàng.
Bộ phận này sẽ dự báo nhu cầu, phân tích thị hiếu, xu hướng tiêu dùng trong tương lai. Thông tin sẽ được chuyển cho các bộ phận khác để lập kế hoạch nhu cầu hàng hóa cung ứng cho thị trường. Kế hoạch với sự hợp tác từ khách hàng: ngoài việc lập kế hoạch dựa trên dự báo thông tin thị trường thu thập được từ các bộ phận liên quan, công ty còn có thể đưa ra dự báo nhu cầu sản phẩm chính xác hơn nhờ sự hợp tác của khách hàng. Khách hàng cung cấp số lượng hàng hóa dự kiến sẽ đặt trong một khoảng thời gian nào đó có thể là 3 tháng 6 tháng hoặc 1 năm.
Điều này giúp giảm được khâu thu thập số liệu và phân tích số liệu, tăng sự chính xác cho kế hoạch. Những dự báo này rất hữu ích đối với công ty trong việc xác định xu hướng và thị hiếu của thị trường. Kế hoạch nhu cầu sản phẩm của công ty được lập cho 1 năm nhưng trong quá trình hoạt động cần cập nhật đầy đủ và kịp thời tình hình thị trường thực tế để có thể điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp.2 Mua hàng và tồn kho Hoạt động mua hàng trong chuỗi cung ứng có nhiệm vụ cung cấp nguyên liệu, hàng hóa theo kế hoạch để phục vụ cho nhu cầu sản xuất hoặc bán hàng. Hoạt động mua hàng bao gồm hai nhiệm vụ chính là lựa chọn nhà cung cấp và quản lý tồn kho.
Các nhà quản trị cung ứng phải chọn lựa nhà cung cấp nguyên vật liệu để phục vụ cho sản xuất. Một nhà cung cấp tốt sẽ đáp ứng được nhu cầu về chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, điều kiện thanh toán, dịch vụ tốt cho từng loại nguyên 10 vật liệu phục vụ cho sản xuất. Việc tìm kiếm đúng nguồn cung cấp sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm tối đa chi phí cho nguyên vật liệu, đảm bảo sự ổn định cho những hoạt động khác có liên quan.