Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH iMarket Vietnam – Chi nhánh Hồ Chí Minh Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH iMarket Vietnam – Chi nhánh Hồ Chí Minh Kết luận 4 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.Khái niệm chuỗi cung ứng Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” (Suppy chain – SC) xuất hiện cuối những năm 80 và trở nên phổ biến trong những năm 90. Trong khuôn khổ khóa luận tốt nghiệp, tác giả trích lƣợc một số định nghĩa để bổ sung cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu, bao gồm: Theo quan điểm của Ganeshan và Harrison (1995) thì “SC là mạng lƣới các nhà xƣởng và cơ sở phân phối thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, sử dụng những vật liệu này để sản xuất ra bán thành phẩm và thành phẩm, đồng thời phân phối những thành phẩm này đến khách hàng”.
Theo quan điểm của Chopra, Sunil và Peter Meindl (2001) “SC bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. SC không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, ngƣời bán lẻ và bản thân khách hàng”. Nhƣ vậy chuỗi cung ứng là một tập hợp các hoạt động của tất cả các bên liên quan tham gia chuỗi cung ứng nhƣ nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà kho, các công ty cung cấp dịch vụ, và các cửa hàng bán lẻ,. để sản phẩm đƣợc sản xuất và phân phối đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng đúng nhƣ mong muốn của khách hàng và tổ chức.Quản trị chuỗi cung ứng Để hoạt động chuỗi cung ứng diễn ra nhịp nhàng, hiệu quả, tổ chức cần phải xây dựng hoạt động quản trị cho tất cả các khâu.
Tác giả xin đƣa ra một số định nghĩa của những nhà nghiên cứu về quản trị chuỗi cung ứng (SCM). Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP), “SCM bao gồm hoạch định và 5 quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics”. Theo quan điểm của Mentzer và cộng sự (2001): “SCM là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lƣợc của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lƣợc kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải thiện việc hiện mang tính dài hạn của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ chuỗi cung ứng”. Tóm lại, nội dung chính từ các khái niệm này là ý tƣởng phối hợp hoặc tích hợp hàng hóa và các hoạt động dịch vụ liên quan vào các thành phần của chuỗi cung ứng để cải thiện hiệu quả hoạt động, chất lƣợng và dịch vụ khách hàng.
Chính vì vậy, để quản trị chuỗi cung ứng thành công, các công ty phải cùng làm việc với nhau, chia sẻ thông tin nhƣ dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi năng lực, chiến lƣợc marketing mới, việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, công nghệ mới, kế hoạch mua hàng, ngày giao hàng và tất cả những thông tin khác ảnh hƣởng đến hoạt động mua hàng, sản xuất, kế hoạch phân phối.Các mô hình chuỗi cung ứng 1.Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản Mô hình này bao gồm công ty, các nhà cung cấp (NCC) và khách hàng (KH) của công ty đó. Các mối liên kết trong chuỗi cung ứng chỉ dừng lại ở mức độ 2 bên. Những công ty có quy mô nhỏ sẽ thƣờng áp dụng mô hình quản lý chuỗi cung ứng này. Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản [Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006), tr.Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng Ngoài những thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng đơn giản, chuỗi cung ứng mở rộng sẽ có thêm các thành phần nhƣ nhà cung cấp của nhà cung cấp, khách hàng của khách hàng, Công ty cung cấp dịch vụ cho chuỗi cung ứng nhƣ logistics, tài chính, tiếp thị và công nghệ thông tin.
Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng (Nguồn: Nguyễn Kim Anh (2006), tr.Mô hình chuỗi cung ứng điển hình Trong mô hình chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu đƣợc mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp, các bộ phận đƣợc sản xuất ở một hoặc nhiều nhà máy, sau đó đƣợc chuyển đến công ty sản xuất. Sản phẩm đƣợc phân phối đến nhà bán sỉ, qua nhà bán lẻ đến tay ngƣời tiêu dùng. Các mối quan hệ này đƣợc liên kết với nhau thành một mạng lƣới. Dòng sản phẩm, dịch vụ và thông tin lƣu chuyển liên tục trong cả chuỗi.
Mô hình chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn: Joe D. Wisner, Keah-Choon Tan, G. Keong Leong, Priciples Supply Chain Management – A Balanced Approach (2009), tr. 6) Tóm lại, các sản phẩm sẽ đến tay ngƣời tiêu dùng theo một số hình thức nhất định của chuỗi cung ứng.
Chuỗi cung ứng đơn giản sẽ chỉ có ít thực thể tham gia, trong khi với các chuỗi phức tạp số các thực thể tham gia sẽ rất lớn bao gồm các cấp trung gian khác nhau nhƣ đại lý, kho trung tâm, siêu thị, cửa hàng bán lẻ… 1.Nội dung hoạt động của chuỗi cung ứng Nội dung hoạt động của chuỗi cung ứng bao gồm các vấn đề chính sau đây: 1.Hoạt động quản trị mua hàng 1.Khái niệm mua hàng và quản trị mua hàng a) Khái niệm mua hàng Mua là hành vi thƣơng mại, nhƣng đồng thời cũng là các hoạt động của doanh nghiệp nhằm tạo nguồn lực đầu vào, thực hiện các quyết định của dự trữ, đảm bảo vật tƣ, nguyên liệu, hàng hóa,…cho sản xuất, cung ứng hàng hóa cho khách hàng trong kinh doanh thƣơng mại. Do đó: 8 “Mua là hệ thống các mặt công tác nhằm tạo nên lực lƣợng vật tƣ, nguyên liệu, hàng hóa,. cho doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu dự trữ và bán hàng với tổng chi phí thấp nhất” (Nguyễn Thông Tháo và An Thị Thanh Nhàn, 2011). “Mua hàng là hoạt động kinh tế phản ánh quan hệ trao đổi hàng hóa – tiền tệ giữa ngƣời mua và ngƣời bán trên nguyên tắc thỏa thuận nhằm đạt đƣợc lợi ích của cả hai bên, trong đó ngƣời mua thõa mãn về nhu cầu hàng hóa, nguyên vật liệu nhằm đáp ứng đầu vào của hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân, ngƣời bán thu đƣợc lợi nhuận từ hoạt động bán hàng” (Đồng Thị Thanh Phƣơng, 2007).
b) Khái niệm quản trị mua hàng Quản trị mua hàng đƣợc xem nhƣ một chức năng cơ bản trong doanh nghiệp. Để phục vụ cho các nghiên cứu ở chƣơng sau, tác giả xin trích lƣợc một số định nghĩa về quản trị mua hàng trong doanh nghiệp. “Quản trị mua hàng là tổng hợp các hoạt động xây dựng kế hoạch mua hàng, tổ chức triển khai mua hàng và kiểm soát mua hàng nhằm đạt đƣợc mục tiêu” (Lê Quân và Hoàng Văn Hải, 2010), “Quản trị mua hàng là tổng hợp các hoạt động xây dựng kế hoạch mua hàng, triển khai mua hàng và kiểm soát mua hàng nhằm đạt đƣợc mục tiêu trong doanh nghiệp. Quản trị mua hàng là một hoạt động quan trọng trong việc thực hiện chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy nên hiện nay việc quản trị mua hàng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các hoạt động của doanh nghiệp” (Đồng Thị Thanh Phƣơng, 2007). Nhƣ vậy, quản trị mua hàng là việc triển khai quy trình mua hàng bắt đầu từ việc xác định nhu cầu, tìm và lựa chọn nhà cung cấp, thƣơng lƣợng và đặt hàng, kiểm tra và theo dõi giao nhận hàng hóa và đánh giá kết quả mua hàng. Quá trình mua hàng là quá trình phân tích để đi đến quyết định mua hàng gì, của ai, với số lƣợng và giá cả nhƣ thế nào. Đây là một quá trình phức tạp đƣợc lặp đi, lặp lại thành 9 một chu kì, nó liên quan đến việc sử dụng các kết quả phân tích các yếu tố trong quản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.Mục tiêu của quản trị mua hàng trong doanh nghiệp Do mua hàng là khâu đầu tiên cơ bản của hoạt động kinh doanh, là điều kiện để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tồn tại và phát triển, để công tác quản trị mua hàng có hiệu quả thì mục tiêu cơ bản của hoạt động mua hàng là đảm bảo an toàn cho bán ra, đảm bảo chất lƣợng mua hàng và mua hàng với chi phí thấp nhất.
Đảm bảo an toàn cho bán ra thể hiện trƣớc hết là hàng mua phải đủ về số lƣợng và cơ cấu tránh tình trạng thừa hay thiếu dẫn đến ứ đọng hàng hóa hay gián đoạn kinh doanh làm ảnh hƣởng đến lƣu thông hàng hóa. Mặt khác hàng mua phải phù hợp với nhu cầu của KH vì KH là ngƣời tiêu dùng sản phẩm do công ty bán ra. Công ty có tồn tại hay không phụ thuộc vào KH. Cuối cùng là đảm bảo sao cho việc mua hàng, vận chuyển ít gặp rủi ro (do giao hàng chậm, ách tắc trong khâu vận chuyển…).
Đảm bảo chất lƣợng hàng mua vào thể hiện ở chỗ hàng phải có chất lƣợng mà KH có thể chấp nhận đƣợc. Quan điểm phổ biến hiện nay trong cả sản xuất, lƣu thông và tiêu dùng là cần có những hàng hóa có chất lƣợng tối ƣu chứ không phải có chất lƣợng tối đa. Chất lƣợng tối ƣu là mức chất lƣợng mà tại đó hàng hóa đáp ứng tốt nhất một nhu cầu nào đó của ngƣời mua và nhƣ vậy ngƣời bán hay ngƣời sản xuất có thể thu đƣợc nhiều lợi nhuận nhất. Còn chất lƣợng tối đa là mức chất lƣợng đạt đƣợc cao nhất của doanh nghiệp khi sử dụng các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm, mức chất lƣợng này có thể cao hơn hoặc thấp hơn chất lƣợng tối ƣu.
Đảm bảo mua hàng với chi phí thấp nhất nhằm tạo những điều kiện thuận lợi cho việc xác định giá bán hàng. Doanh nghiệp có thể hạ giá bán thấp hơn các đối thủ cạnh tranh để kéo KH về phía mình. Chi phí mua hàng không chỉ thể hiện ở giá bán mà còn thể hiện ở chỗ mua hàng ở đâu, của ai, số lƣợng là bao nhiêu… để chi phí giao dịch, đặt hàng, chi phí vận chuyển là thấp nhất. Các mục tiêu trên không 10 phải lúc nào cũng thống nhất nhau đƣợc vì thông thƣờng để đạt đƣợc cái này con ngƣời sẽ phải hy sinh cái khác hay mất đi một thứ khác.
Chẳng hạn thƣờng xảy ra mâu thuẫn giữa chất lƣợng và giá cả, chất lƣợng tốt thì giá cao và ngƣợc lại.