Mở đầu Nêu rõ vấn đề mà các doanh nghiệp đang gặp phải, nêu được mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết o Khái quát về khái niệm Logistics và dịch vụ Logistics o Nêu rõ khái niệm và công dụng về phương pháp khảo sát và phần mềm SPSS ( phương pháp thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích các nhân tố khám phá EFA). o Lược khảo tài liệu - Chương 3: Phương pháp luận Vẽ được flowchart quy trình thực hiện đề tài và nêu rõ các bước đã nêu ở flowchart trên. 4 - Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Vẽ được đối tượng nghiên cứu bằng mô hình, thu nhập dữ liệu bằng việc thiết kế bảng khảo sát và khảo sát các doanh nghiệp xuất khẩu thanh long, sau đó phân tích dữ liệu vừa thu nhập được bằng việc tính cỡ mẫu và sử dụng phần mềm SPSS.
- Chương 5: Kết luận và hướng phát triển đề tài. Rút ra được kết luận từ kết quả vừa thực hiện được và nêu ra hướng phát triển đề tài cho doanh nghiệp. 5 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại dịch vụ Logistics: 2.1 Khái niệm về dịch vụ Logistics: Có rất nhiều khái niệm về Logistics được các tổ chức, các cá nhân nghiên cứu về lĩnh vực này. Theo quan điểm của WTO Logistics được định ngĩa là chuỗi cung ứng dịch vụ, bao gồm lập kế hoạch, thực hiện kiểm soát sự dịch chuyển và lưu kho hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Dịch vụ Logistics truyền thống bao gồm các dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận, các dịch vụ giá trị tăng của bên thứ ba (như làm việc theo yêu cầu của khách hàng). Trong Luật Thương mại năm 1997 của Việt Nam gọi dịch vụ Logistics là dịch vụ giao nhận hàng hóa với qui định như sau: “Dịch vụ giao nhân hàng hóa là hành vi thương mại theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhân hàng theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc cho người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)” ( [7]. Đến Luật thương mại năm 2005, pháp luật Việt Nam lần đầu tiên đưa ra quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics, theo Điều 233 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ Logistics được phiên âm theo tiếng Việt là Lô-gi-stíc” [8].2 Đặc điểm và vai trò của dịch vụ Logistics: a.
Đặc điểm của dịch vụ Logistics: - Dịch vụ Logistics mang tính chất là một quá trình được thực hiện liên tục, không mang tính chất đơn lẻ và có tác động lẫn nhau, được thực hiện một cách có hệ thống từ các nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện đến kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. - Dịch vụ Logistics hỗ trợ toàn bộ các khâu trong hoạt động của doanh nghiệp, từ khâu chuẩn bị nguyên liệu, vật liệu , khâu sản xuất và đến khi sản phẩm từ doanh nghiệp đưa đến tận tay người tiêu dùng. - Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ Logistics để tránh hạn chế tối đa rủi ro, giảm chi phí thù lao và đưa đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng. - Dịch vụ Logistics là sự phát triển cao, hoàn thiện của dịch vụ giao nhận và dịch vụ vận tải đa phương thức, dịch vụ vận tải giao nhận là một phần trong dịch vụ Logistics.
Vai trò của dịch vụ Logistics: - Dịch vụ logistics có vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bổ trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do thương nhân thực hiện để hưởng thù lao. - Đối với các doanh nghiệp dịch vụ Logistics đóng vai trò rất lớn trong việc giải quyết bài toán đầu vào và đầu ra một cách hiệu quả. - Giúp thay đổi nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình vận chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa. - Dịch vụ Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giảm chi phí trong quá trình sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Như vậy cho thấy dịch vụ Logistics đang đóng một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, lưu thông, phân phối và đặc biệt là trong sản xuất kinh doanh XNK. Logistics đang giữ vai trò là cầu nối và là động lực thúc đẩy lưu chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu. 7 Và cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới dịch vụ Logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng.3 Phân loại dịch vụ Logistics: a. Phân loại theo hình thức: Trải qua quá trình phát triển trong lĩnh vực Logistics, Logistics đã phát triển mạnh dưới năm hình thức 1PL, 2PL, 3PL, 4PL, 5PL.
Trong đó: - Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics): là hình thức dịch vụ mà những người sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Theo hình thức này, chủ hàng phải tự đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động Logistics [9].1-1 Logistics bên thứ nhất - Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics): là một chuỗi những người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ cho chuỗi hoạt động Logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhưng chưa tích hợp với hoạt động Logistics. Quản lý các hoạt động như: vận tải, kho vận, thủ tục hải quản,.1-2 Logistics bên thứ hai - Logistics bên thứ ba ( 3PL – Thirty Party Logistics): là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộh phận chức năng hoặc cả quá trình quản lý Logistics. Bao gôm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, hàng tồn kho, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin.
và có tính tích hợp chuỗi cung ứng của khách hàng [11].1-3 Logistics bên thứ ba - Logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics): công ty đóng vai trò hợp nhất, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất kễ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi Logistics toàn diện. 4PL hướng đến quản trị cả quá trình 9 Logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng [12].1-4 Logistics bên thứ tư - Logistics bên thứ năm (5PL – Fifty Party Logistics): là người thiết kế và tái cấu trúc tại chuỗi cung ứng, các hoạt động của 3PL, 4PL cũng như cung cấp hệ thống thông tin tích hợp để đảm bảo dòng thông tin liên tục và tăng khả năng kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng [13].1-5 Logistics bên thứ năm b. Phân loại theo quá trình: Được chia thành thành 3 loại như sau: o Logistics đầu vào (Inbound Logistics): bao gồm hoạt động tiếp nhân và lưu trữ các nguyên vật liệu đầu vào từ các nhà cung cấp cho tới doanh 10 nghiệp. Quá trình này đảm bảo các yếu tố đầu vào như tối ưu về giá trị, thời gian và chi phí sản xuất.
o Logistics đầu ra (Outbound Logistics): các hoạt động liên quan đến lưu trữ kho bãi, phân phối sản phẩm tới tay người nhận sao cho tối ưu về thời gian, địa điểm, chi phí để giá thành sản phẩm giảm, đem lợi nhuận về cho doanh nghiệp. o Logistics ngược hay còn gọi là Logistics thu hồi (Reverse Logistics): quá trình này bao gồm các hoạt động thu hồi lại sản phẩm bị lỗi, phế phẩm hoặc phế liệu được phát sinh khi phân phối sản phẩm để tái chế. Phân loại theo đối tượng hàng hóa: o Dịch vụ logistics cho hàng hóa khô: là dịch vụ logistics cho các loại hàng hóa không có tính chất dễ hỏng như quần áo, giày dép, sách vở, đồ gia dụng,. o Dịch vụ logistics cho hàng hóa lạnh: là dịch vụ logistics cho các loại hàng hóa có tính chất dễ hỏng như thực phẩm tươi sống, thực phẩm đông lạnh, thuốc y tế,.
o Dịch vụ logistics cho hàng hóa nguy hiểm: là dịch vụ logistics cho các loại hàng có tính chất nguy hiểm như chất độc hại, chất nổ, chất dễ cháy nổ,.2 Khái niệm và đặc điểm của thuê ngoài dịch vụ Logistics: 2.1 Khái niệm thuê ngoài dịch vụ: Việc thuê ngoài dịch vụ hiện rất phổ biến trong kinh doanh của doanh nghiệp ngày nay đặc biệt là dịch vụ Logistics. Thuê ngoài là một thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế. Thuê ngoài (outsourcing) đơn giản được hiểu là việc di chuyển các quá trình kinh doanh trong tổ chức sang các nhà dịch vụ bên ngoài. Về bản chất đây là chiến lược loại trừ các chức năng kinh doanh không cốt lõi (none core business) ra khỏi tổ chức để tập trung vào các hoạt động sản xuất kinh doanh chính.
Thuê ngoài Logistic (Outsourcing Logistics) là việc thuê một công ty đại diện bên được thuê bên ngoài để đảm nhận toàn bộ các dịch vụ Logistics của công ty khách hàng dựa trên hợp đồng 11 bao gồm việc thực hiện các thủ tục kê khai hải quan và thông quan hàng hóa, giấy tờ xuất nhập khẩu, chứng từ giao nhận và vận chuyển, xếp dỡ hàng,. để giao hàng đến đúng điểm quy định.2 Đặc điểm, lợi ích khi sử dụng việc thuê ngoài dịch vụ Logistics: Cắt giảm chi phí, hạn chế rủi ro, tối ưu hóa nguồn nhân lực và tăng năng lực cạnh tranh đang là một bài toán khó của rất nhiều doanh nghiệp hiện nay. Trong khi đó, việc phải duy trì một số mặt hàng hay dịch vụ không phải là chủ chốt thì doanh nghiệp phải tốn một khoản chi phí không nhỏ vào bộ phận nhân sự và những vấn đề về quản trị. Vì vậy, việc thuê ngoài một đối tác cung cấp các dịch vụ quản lỹ hằng ngày, quy trình thanh toán, chăm sóc khách hàng, nhập dữ liệu,.
được xem là một giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp giải quyế được những rắc rối trên và tập trung tốt hơn vào các lĩnh vực kinh doanh cốt lỗi của doanh nghiệp.