CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU 1.1 Cơ sở lý luận giao nhận hàng hóa 1.1 Khái niệm Giao nhận hàng hoá quốc tế là bộ phận của kinh doanh quốc tế và là một khâu rất quan trọng được trong quá trình lưu thông nhằm đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. “Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhận khác ( gọi chung là khách hàng)” - Điều 136 Luật Thương mại. Trước kia, việc giao nhận hàng hóa có thể do người gửi hàng, người nhận hàng hay do người chuyên chở đảm nhiệm và tiến hành. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, phân công lao động quốc tế với mức độ và quy mô chuyên môn hoá ngày càng cao, giao nhận cũng dần dần được chuyên môn hóa, do các tổ chức, các nghiệp đoàn giao nhận chuyên nghiệp tiến hành và giao nhận đã chính thức trở thành một nghề trong xã hội.
Nghề giao nhận hàng hóa trên thế giới đã ra đời cách đây khoảng 500 năm. Năm 1552, hãng Vansai đã ra đời ở Badilay, Thuỵ Sĩ làm công việc giao nhận và kiêm cả việc vận tải hàng hoá. Như vậy, nói một cách ngắn gọn và tổng quát: Giao nhận hàng hóa là một dịch vụ liên quan đến quá trình vận tải nhằm tổ chức việc vận chuyển hàng hoá từ nơi nhận hàng đến nơi giao hàng. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống xã hội hiện nay, với sự mở rộng giao lưu hợp tác thương mại giữa các nước, chính điều này đã làm cho giao nhận ngày càng có vai trò quan trọng.
Điều này được thể hiện ở: 3 - Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận vào tác nghiệp. - Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của các phương tiện vận tải, tận dụng được một cách tối đa và có hiệu quả dung tích và tải trọng của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải, cũng như các phương tiện hỗ trợ khác. - Giao nhận làm giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu. - Bên cạnh đó, giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết như chi phí xây dựng kho tàng bến bãi của người giao nhận hay do người giao nhận thuê, giảm chi phí đào tạo nhân công.2 Vai trò, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận a.
Khái niệm Người giao nhận là người thực hiện các dịch vụ giao nhận theo sự uỷ thác của khách hàng hoặc người chuyên chở. Theo khía cạnh khác, người kinh doanh các dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận. Người giao nhận có thể là chủ hàng, cũng có thể là chủ tàu, hay công ty xếp dỡ hay kho hàng hoặc người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ một người nào khác thực hiện dịch vụ đó. Người giao hàng mang những đặc điểm sau: - Người giao nhận hoạt động theo hợp đồng uỷ thác ký với chủ hàng bảo vệ lợi ích của người chủ hàng.
- Người giao nhận lo liệu vận tải nhưng không phải là người chuyên chở. Họ cũng có thể có phương tiện vận tải, có thể tham gia chuyên chở nhưng đối với với hàng hoá, họ chỉ là người giao nhận ký hợp đồng uỷ thác giao nhận. - Cùng với việc tổ chức vận tải người giao nhận còn làm nhiều việc khác trong phạm vi uỷ thác của chủ hàng để đưa hàng từ nơi này đến nơi khác theo những điều khoản đã cam kết. Vai trò Khởi đầu người giao nhận chỉ là người đại diện được ủy thác thực hiện một số công việc do các nhà xuất nhập khẩu uỷ thác, thay mặt họ làm những công việc như xếp dỡ, lưu kho hàng hoá, làm thủ tục hải quan, lo liệu vận tải nội địa, làm thủ tục thanh toán tiền hàng… Sau này do sự mở rộng của thương mại quốc tế và sự phát triển của các phương thức vận tải phạm vi dịch vụ giao nhận hàng hóa đã được mở rộng thêm.
Chính vì điều này, người giao nhận không chỉ làm các thủ tục hải quan hoặc thuê tàu mà còn cung cấp dịch vụ trọn gói về toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hoá. Quyền hạn và trách nhiệm Quyền hạn của người của người giao nhận khi đóng vai trò là đại lý theo điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy ước chung của FIATA, người giao nhận có quyền: - Tự do lựa chọn người ký hợp đồng phụ và tuỳ ý quyết định sử dụng những phương tiện và tuyến đường vận tải thông thường. - Cần giữ hàng hoá để đảm bảo được thanh toán những khoản tiền khách hàng nợ. Mặc dù người giao nhận có các quyền của người đại lý đối với chủ của mình, những quyền này không thực sự đủ để bảo vệ cho họ trong thực tế giao nhận hiện đại ngày nay.
Vì lý do đó tốt hơn hết là người giao nhận nên giao dịch theo những điều kiện và điều khoản đã biết và những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn của các hiệp hội giao nhận quốc gia. Nghĩa vụ của người giao nhận với tư cách là đại lý. Theo điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn quy ước chung của FIATA, người giao nhận phải: - Thực hiện sự uỷ thác của khách hàng với một sự quan tâm hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích của khách hàng. 5 - Tổ chức và lo liệu vận chuyển hàng hoá được uỷ thác theo sự chỉ dẫn của khách hàng.
Trách nhiệm của người vận tải với tư cách là người đại lý. Là đại lý người giao nhận chỉ chịu trách nhiệm đối với những lỗi của bản thân mình hoặc người làm công cho mình. Trách nhiệm đối với khách hàng Người giao nhận phải chịu trách nhiệm đối với khách hàng về những mất mát hoặc hư hỏng vật chất về hàng hoá nếu mất mát hoặc hư hỏng là do lỗi của họ hoặc người làm công của họ. Mặc dù theo những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn, người giao nhận không phải chịu chách nhiệm về những tổn thất hoặc hậu quả gián tiếp nhưng người giao nhận nên bảo hiểm cả những rủi ro đó vì khách hàng vẫn có thể khiếu nại.
Người giao nhận phải chịu chách nhiệm đối với khách hàng về những lỗi lầm về nghiệp vụ: Người giao nhận hoặc người làm công của họ có thể có lỗi lầm hoặc sơ suất không phải do cố ý nhưng gây thiệt hại về tài chính cho khách hàng của mình. Đối với việc giao hàng chậm mặc dù người giao nhận thường không ràng buộc mình phải giao hàng vào một ngày nhất định tại nơi đến và không nhận trách nhiệm về việc giao hàng chậm xong xu hướng hiện nay là chấp nhận một mức độ trách nhiệm vừa phải về sự chậm trễ quá đáng, giới hạn bằng số tiền cước phải trả cho hàng chậm giao. Trách nhiệm đối với bên thứ ba Người giao nhận dễ bị bên thứ ba chẳng hạn như công ty bốc xếp, cơ quan cảng,.Là những người có liên quan đến hàng hoá trong quá trình chuyên chở, khiếu nại về: - Tổn thất vật chất về tài sản của bên thứ ba và hậu quả của tổn thất đó. - Người của bên thứ ba bị chết, bị thương hoặc ốm đau và hậu quả của việc đó.
6 Về chi phí, người giao nhận phải gánh chịu mọi chi phí trong quá trình điều tra, khiếu nại để bảo vệ quyền lợi cho mình và hạn chế tổn thất như chi phí giám định, chi phí pháp lý, phí lưu kho thậm chí nếu người giao nhận không phải chịu trách nhiệm họ cũng không thể được phía bên kia bồi thường lại. Trường hợp miễn trách Như đã nói ở trên, người giao nhận chỉ chịu trách nhiệm đối với những lỗi hoặc sơ suất của bản thân hoặc của người làm công của mình. Họ không chịu trách nhiệm đối với những hành vi hay sơ xuất của bên thứ ba, chẳng hạn như người chuyên chở, người nhận lại dịch vụ giao nhận miễn là họ đã biểu hiện một sự cần mẫn hợp lý trong việc lựa chọn bên thứ ba đó. Bên cạnh đó, quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người giao nhận khi đóng vai trò là môi giới.
Với vai trò môi giới, người giao nhận chỉ là một trung gian giữa các khách hàng là chủ hàng hoặc chuyên chở. Họ chỉ thực hiện nhiệm vụ như một chiếc cầu nối giữa các khách hàng là chủ hàng hoặc người chuyên chở với nhau và nhờ đó họ được hưởng phí môi giới hoặc tiền thưởng của khách hàng. Trách nhiệm của người giao nhận trong vai trò môi giới này nói chung rất thấp và hầu như không đáng kể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người giao nhận làm môi giới nhưng lại nhận được sự uỷ thác của khách hàng để hành động thay mặt họ trong một giới hạn nhất định.
Khi đó người giao nhận trở thành như một đại lý có quyền hạn nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại lý đã đề cập ở phần trên.2 Giao nhận hàng hóa XNK tại cảng biển 1.1 Cơ sở pháp lý, nguyên tắc giao nhận hàng hóa XNK a. Cơ sở pháp lý Việc giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm pháp luật Quốc tế và của Việt Nam được tóm tắt như sau: - Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế quy định rõ ràng về những mục tiêu tổng quát ghi trong các Nghị quyết về sự thành lập một nền trật tự kinh tế quốc tế mới mà Ðại hội đồng Liên hợp quốc đã chấp nhận trong 7 khóa họp bất thường lần thứ sáu, cũng như đề ra các quy tắc thống nhất điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có tính đến các hệ thống xã hội, kinh tế và pháp lý khác nhau thúc đẩy việc loại trừ các trở ngại pháp lý trong thương mại quốc tế và sẽ hỗ trợ cho việc phát triển thương mại quốc tế, đã thỏa thuận. - Thông tư của Bộ Thương mại số 09/2007/TT-BTM ngày 17 tháng 07 năm 2007 hướng dẫn chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.