lời mở đầu, đưa ra cái nhìn tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quy trình cung ứng dịch vụ logistics: Chương tiếp theo sẽ đi sâu hơn về khải niệm, đặc điểm, vai trò, phạm vi hoạt động dịch vụ, các yếu tố ảnh hưởng và các thành viên tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ logistics. Chương 3: Thực trạng quy trình cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Bưu vận nội địa và quốc tế Đông Dương – Indochina Post: Chương này sẽ giới thiệu tổng quát về công ty tác giả đã thực tập cũng như hiện trạng về việc quy trình cung ứng dịch vụ logistics theo đúng với lý thuyết đã nêu ở Chương 2, đồng thời nhận xét và điểm mạnh và hạn chế còn tồn tại của công ty. Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao quy trình cung ứng dịch vụ logistics tại Công ty Cổ phần Bưu vận nội địa và quốc tế Đông Dương – Indochina Post: Chương cuối cùng là những giải pháp, kiến nghị được rút ra từ việc sinh viên vận dụng từ lý thuyết đã học được và những trải nghiệm thực tế tại công ty.
8 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS 2. Khái quát về dịch vụ logistics và quy trình cung ứng dịch vụ logistics 2. Khái niệm dịch vụ logistics - Định nghĩa “logistics” Theo tác giả An Thị Thanh Nhàn (Giáo trình Quản trị Logistics kinh doanh, 2018) logistics được hiểu là “Quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.” - Dịch vụ Logistics Theo Điều 233 Luật Thương mại 2005: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá.” Dịch vụ logistics được phân loại trong Luật thương mại Việt Nam như sau: Dịch vụ liên quan đến vận tải o Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển. o Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa.
o Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt. o Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ. o Dịch vụ vận tải hàng không. o Dịch vụ vận tải đa phương thức.
Dịch vụ hỗ trợ vận tải o Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay. o Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển. 9 o Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải. o Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.
o Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan). o Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải. o Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.
Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại 2005. Dịch vụ chuyển phát Dịch vụ chuyển phát được định nghĩa là việc nhận, phân loại, vận chuyển và phân phối (trong nước hoặc quốc tế) thư, bưu phẩm, bưu kiện của các doanh nghiệp không hoạt động theo giao ước dịch vụ chung. Hoạt động này có thể sử dụng một hoặc nhiều phương thức vận tải, có thể sử dụng phương tiện vận tải của doanh nghiệp hoặc các phương tiện vận tải công cộng. Dịch vụ logistics bao hàm tất cả các hoạt động liên quan đến việc tổ chức, sắp xếp và quản trị dòng chảy của hàng hóa hữu hình và vô hình.
Tuy có bản chất vô hình, dịch vụ logistics lại đóng vai trò thiết yếu trong việc sản xuất các vật chất hữu hình. Nói cách khác, logistics không trực tiếp tạo ra sản phẩm vật lý, nhưng lại là nhân tố then chốt góp phần tạo nên giá trị cho sản phẩm đó. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, dịch vụ logistics ngày càng được ứng dụng rộng rãi và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nhờ dịch vụ logistics, hàng hóa được vận chuyển nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Đặc điểm của dịch vụ logistics - Tính vô hình Dịch vụ là hoạt động và lợi ích mà khách hàng nhận được, thỏa mãn, không thể nhìn thấy, sờ, chạm hay cảm nhận trực tiếp trước khi mua. Điều này có nghĩa là, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình. - Tính không thể tách rời Sản phẩm dịch vụ có đặc tính không thể tách rời giữa quá trình cung ứng và quá trình tiêu dùng sản phẩm dịch vụ. Quá trình sản xuất (cung ứng) và tiêu dùng dịch vụ luôn diễn ra đồng thời tại địa điểm của nhà sản xuất, vì vậy mà nó mang tính không thể chia cắt.
- Tính không thể lưu trữ Sản phẩm dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất trữ và lưu kho như sản phẩm hữu hình. Chính bởi quá trình cung ứng và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ luôn diễn ra đồng thời nên sản phẩm dịch vụ không thể lưu giữ hay lưu kho được. - Tính không đồng nhất Chất lượng dịch vụ có thể thay đổi tùy thuộc vào người cung cấp, thời điểm và địa điểm cung cấp dịch vụ cũng như khách hàng trực tiếp sử dụng dịch vụ đó. Sản phẩm dịch vụ mang tính cá biệt vì chúng phụ thuộc lớn vào cảm nhận chủ quan của người tiêu dùng.
Vai trò của dịch vụ logistics Thứ nhất, dịch vụ logistics giúp tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối và sản xuất của doanh nghiệp. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của một sản phẩm trên thị trường chính là giá cả. Chi phí lưu thông cũng là một phần của giá cả bên cạnh chi phí trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Trong đó, vận tải là hoạt động chiếm phần lớn trong chi phí lưu thông 11 này, hay nói cách khách, chi phí vận tải có ảnh hưởng phần nhiều đến chi phí của sản phẩm.
Một hệ thống logistics được thiết kế khoa học có thể giảm đang kể chi phí này. Thứ hai, dịch vụ logistics, chuyển phát tạo ra nhiều cơ hội việc làm, đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Dịch vụ này cung cấp cơ hội cho tất cả những người lao động tại nhiều trình độ: từ những công việc lao động chân tay như lái xe, giao hàng, đến những công việc yêu cầu trình độ cao hơn như quản trị kho, quản trị giao nhận, quản trị vận tải. Thứ ba, dịch vụ logistics, chuyển phát thúc đẩy và mở rộng nền kinh tế nội địa và quốc tế.
Nó đóng vai trò như một cây cầu kết nối các nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối và người tiêu dùng, tạo ra một hệ thống thông suốt. Hệ thống logistics hiệu quả giúp di chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm. Giảm được chi phí cũng đồng nghĩa với việc tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Xây dựng một hệ thống logistics hợp lý sẽ xóa bỏ được nhiều rào cản cũng như lo ngại của doanh nghiệp về chi phí, thủ tục, quy trình và thời gian vận chuyển, lưu kho, phân phối… đặc biệt là tại các thị trường quốc tế.
Thứ tư, dịch vụ logistics, chuyển phát thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử. Sự bùng nổ của thương mại điện tử trong những năm gần đây đã mang đến một môi trường đầy tiềm năng cho dịch vụ logistics. Dịch vụ chuyển phát cung cấp nhiều giải pháp gom hàng, giao hàng, phù hợp với yêu cầu đa dạng của khách hàng trên sàn thương mại điện tử như nhận hàng nhanh, nhận hàng tiêu chuẩn, hỏa tốc, tiết kiệm. Các dịch vụ chuyển phát, bưu chính thường cần nhiều ứng dụng về công nghệ và xử lý thông tin – một yếu tố cực kỳ then chốt trong ngành thương mại điện tử.
Điều này cho phép khách hàng theo dõi trạng thái của đơn hàng của họ từ khi đặt hàng đến khi được giao hàng, từ đó tạo ra sự minh bạch và tin cậy, giúp nâng cao trải nghiệm mua sắm trực tuyến và tạo ra lòng tin từ phía khách hàng. Quy trình cung ứng dịch vụ logistics 12 2. Các thành viên tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ chuyển phát Theo tác giả An Thị Thanh Nhàn (Giáo trình Quản trị Logistics kinh doanh, 2018), có 4 thành viên chính tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ chuyển phát bao gồm: người gửi hàng, người nhận hàng, đơn vị vận tải, chính phủ và công chúng. Mối quan hệ giữa các thành viên này được thể hiện như sau: Hình 2.1: Các thành viên tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ chuyển phát Nguồn: Giáo trình Quản trị logistics kinh doanh Người gửi hàng là cá nhân hoặc doanh nghiệp, tổ chức muốn di chuyển hàng hóa đến một địa điểm cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định.
Họ cần phải có kiến thức về đặc điểm của nhiều phương án vận chuyển khác nhau, đồng thời có một kĩ năng đàm phán tốt sao cho việc vận chuyển có thể đem lại lợi ích tối đa cho mình nhất. Người nhận hàng và người gửi hàng có một mối quan hệ gắn chặt và không thể tách rời. Thông thường, chủ hàng sẽ phải gửi hàng sao cho thuận tiện với yêu cầu của bên nhận hàng. Người nhận hàng là người yêu cầu hàng hóa được giao đến đúng nơi, đúng quy định, đúng chất lượng, số lượng theo quy định đã đồng ý với 13 bên gửi hàng từ trước.
Người nhận hàng chú ý nhiều đến giá cả và chất lượng dịch vụ trong tương quan với mức giá đó.