Chương I: Lý luận chung về dịch vụ logistics và nhà cung cấp dịch vụ logistics - Chương II: Thuc trang dich vu logistics tai Chi nhanh Cong ty TNHH Schenker Logistics Viét Nam tai Ha Noi - Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện dich vy logistics tại Chỉ nhánh Cong ty TNHH Schenker Logistics Viét Nam tai Ha NOt CHUONG I: LY LUAN CHUNG VE DICH VU LOGISTICS VA NHA CUNG CAP DICH VU LOGISTICS 1.1, Téng quan vé dich vu logistics LAUT, Khai niém dich vu logistics Hién nay trén thé giới chưa có định nghĩa chung vẻ “dịch vụ logistics” ma chi xuat hién nhiéu quan diém khac nhau vé khai niém “logistics”. Trong do, dinh nghĩa được coi là đầy đủ và được sử dụng rộng rãi nhất là định nghĩa của Hội đồng quan ly logistics cua Hoa Ky (Council of logistics Management - CLM): “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tô chức thực hiện và kiêm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tín liên quan từ điễm xuất phat dau tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yên cầu của khach hang” (logistics is the process of planning, implementing, and controling the efficient, effective flow and storage of goods, services, and related information from point of origin to point of consumption for the purpose of conforming to customer requirements). (Hoang Van Chau, 2009) Trong Luật thương mại Việt Nam 2005, khai niém logistics khéng duce dinh nghĩa ràng mà thay vào đó là khái niệm “dịch vụ logisttes” và được phiên âm theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”. Điều 233 Luật thương mại Việt Nam 2005 định nghĩa: “Dich vu logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gầm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vẫn khách hàng, đóng gói bao bì, ghỉ ký mã hiện, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stc. Đặc điểm của dịch vụ logistics Hiện nay chưa có tài liệu hay nghiên cứu cụ thê nào nói về đặc điểm của dich vụ logistics. Tuy nhiên tại Việt Nam, dich vu logistics chịu sự điều phối và quản lý của pháp luật, vì vậy nó được kiểm soát bằng những quy định cụ thể trong Luật Thương mại Việt Nam 2005. Theo đó, ta có thê khái quát lại những đặc điểm cơ ban cua dich vy logistics nhu sau: Thứ nhất: Dịch vụ logistics khéng hiện hữu.
Dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dang vật thé. Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta có thể xác định mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và mức độ trung gian giữa dịch vụ và hàng hóa hiện hữu. Trong dịch vụ logistics người ta cung cấp cả sản phẩm hữu hình và vô hình (dịch vụ, tư vấn.
Đôi khi cũng không có ranh giới rõ ràng, ví dụ như trên góc độ logisties từ hàng hóa hữu hình tới dịch vụ phi hữu hình có 4 mức độ: + Hàng hóa hiện hữu: cung ứng tàu biển, đồ ăn, nước uống. (bán hang) + Hàng hóa hoàn hảo: Gồm hàng hóa hoàn hảo và khi tiêu dùng phải có dịch vụ đi kèm để tăng sự thỏa mãn. Ví dụ: đóng gói hàng hóa,. + Dịch vụ: Thỏa mãn thông qua sản phẩm dịch vụ kèm phương tiện vận tải + Dịch vụ hoàn hảo: Hoàn toàn không hiện hữu.
Ví dụ: khai thuê hải quan,. + Mức độ hữu hình và vô hình của sản phâm gây khó khăn trong đánh giá của khách hàng Thứ hai: Dịch vụ không đồng nhất. Sản phẩm dịch vụ khó tiêu chuẩn hóa, khó kiểm soát, các nhân viên thực hiện dịch vụ trong các lần khác nhau cũng khác nhau (tốc độ làm chứng từ, tính chính xác,. Khách hàng tiêu đùng là người quyết định chất lượng dựa vào cảm nhận của họ.
Vì vậy các khách hàng khác nhau sẽ có cảm nhận khác nhau. Sản phẩm dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn được nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Do vậy, trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện cá nhân hóa dịch vụ và làm cho tăng thêm mức độ khác biệt giữa các dịch vụ. Dịch vụ logistics không đồng nhất còn do dịch vụ bao quanh và môi trường vật chất hay thay đổi.
Các dịch vụ là khác loại nếu dịch vụ cơ bản khác nhau. Ngay cả dịch vụ logistics cùng loại cũng có sự khác nhau về lượng và về phẩm cấp do dịch vụ bao quanh và kỹ năng nghề nghiệp khác nhau. Thứ ba: Dịch vụ logistics không tách rời với hoạt động sản xuất và phân phối chúng. Cac sản phẩm cụ thê không đồng nhất nhưng đều mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ co ban phat triên thành.
Một sản phẩm dịch vụ cụ thê gắn liền với cầu trúc của nó và là kết quả của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó. Quá trình sản xuất gắn liền với việc tiêu dùng dịch vụ, người tiêu dùng cũng tham vào hoạt động cung cấp dịch vụ cho chính mình. Dịch vụ là liên tục và có hệ thống. Thứ tư: Sản phẩm dịch vụ logistics là không thể tốn trữ (trừ phương tiện và cơ sở vật chất của dịch vụ - nhưng chưa phải là dịch vụ nếu không có sự vận hành của con người).
Dịch vụ logistics không thê để tồn kho và vận chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, vì vậy nên việc tạo ra và tiêu dùng dich vụ bị giới hạn bởi thời gian. Điều này dẫn tới mất cân đối bố cục bộ trong cung câu dịch vụ ở một khoảng thời gian. Phân loại dịch vụ logistics Phân loại theo hình thức và loại hình, logistics gom: - Logistics bên thứ nhất (First Party Logistics): người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tô chức và thực hiện các hoạt động logisties dé đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư các phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản ly va van hanh hoat déng logistics.
Logistics bên thứ nhất làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh đoanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quán lý và vận hành hoạt động logistics. - Logistics bên thứ hai (Second Party Logistics): người cung cấp địch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, khai báo hải quan, thanh toán hộ,.) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải biên, đường bộ, đường thủy nội địa, đường hàng không, các doanh nghiệp kinh doanh bến bãi, khai báo hải quan, thanh toán hộ,. - Logistics bén thir ba (Third Party Logistics): la nguwoi thay mat cho chu hang quan ly và thực hiện các dịch vụ logisties cho từng bộ phan chức năng, ví dụ như thay mặt người gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất nhập và vận chuyên nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyên hàng tới địa điểm theo quy định,.
Do đó logistics bên thứ ba bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyên, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,. và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. - Logistics bén thir tr (Fourth Party Logistics): là người tích hợp, gắn kết các nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tô chức khác đề thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. Logistics bên thứ tư chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyến logistics, cung cấp các giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải,.
Logistics bên thứ tư hướng đến quản tri ca quá trình logistics, nhdn hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. - Logistics bén thir nam (Fifth Party Logistics): da duoc nhắc đến trong những năm gần đây. Đây là hình thức phát triên cao hơn của logistics bên thứ tư đi cùng với sự phát triển của thương mại điện tử. Phân loại theo lĩnh vực hogt động cua logistics Ngày nay, hệ thống logistics càng có vị trí và vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất và đời sống, được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau và phát triển thành 3 nhóm : Hệ thống logistics trong quân sự; Hệ thống logistics trong sản xuất, kinh doanh, thương mại; Hệ thống logistics trong quản lý xã hội.
Phân loại theo quá trình, logistics gồm 3 loại: - Logistics đầu vào (Tnbound logistics): là các hoạt động đâm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,.) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chỉ phí cho quá trình sản xuất. - Logistics đầu ra (Outbound logistics): là các hoạt động đâm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu đùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chỉ phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. - Logistics ngược (Reserse logistics) là quá trình thu hồi các phụ phâm, phế liệu, phế phâm, các yếu tổ ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về đề tái chế hoặc xử lý. Nội dung dịch vụ logistics Để tiện cho công tác quản lý, ngày 30/12/2017 Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dich vu logistics.
Nghi định chính thức có hiệu lực từ ngày 20/02/2018, trong đó phân loại cụ thê 17 loại hình địch vụ logistics tại Điều 3 chương L (Phụ lục 1. ii trò của phát triển dịch vụ logistics 1. tai trò của phát triển dịch vụ logistics đối với nên kinh tế quốc dân Logistics la một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc dé tong thé, ta thay dich vu logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa.
Một nghiên cứu của trường Đại học quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động dịch vụ logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở châu Au, Bac Mỹ và một số nền kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (theo Rushton Oxley & Croucher, (2000)). Vì vậy, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng trong nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội.