CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Cơ sở pháp lý và nguyên tắc của giao nhận hàng hóa 1.1 Cơ sở pháp lý của giao nhận hàng hóa Việc giao nhận hàng hoá XNK phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm pháp luật quốc tế, Việt Nam…. Các Công ước về vận đơn, vận tải; Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hoá…. Ví dụ: Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt nam về giao nhận vận tải; Các loại hợp đồng và L/C mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng XNK Ví dụ: Luật, bộ luật, nghị định, thông tư + Bộ luật hàng hải 1990 + Luật thương mại 2005 + Nghị định 25CP, 200CP,330CP + Quyết dịnh của bộ trưởng bộ giao thông vận tải: quyết định số 2106 (23/8/1997) liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hoá tại cảng biển Việt Nam.2 Nguyên tắc của giao nhận hàng hóa Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển Việt Nam như sau: - Việc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng. - Ðối với những hàng hoá không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận tải (quy định mới từ 1991).
Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác phải kết toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thoả thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các chi phí có liên quan. - Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện. Trường hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thoả thuận với cảng và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho cảng. SVTH: Phạm Thị Thùy Trang MSSV: 107401219 Khóa luận tốt nghiệp 4 GVHD: Th.S Trần Thị Trang - Khi được uỷ thác giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu với tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó.
- Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi, cảng. - Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải xuất trình những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hoá ghi trên chứng từ. Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan…. - Việc giao nhận có thể do cảng làm theo uỷ thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm.2 Nghiệp vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu 1.1 Khái niệm Đặc điểm nổi bật của buôn bán quốc tế là người mua và người bán ở các quốc gia khác nhau.
Để hàng hóa từ tay người bán đến được tay người mua phải thông qua vận tải hàng hóa quốc tế. Giao nhận là một khâu quan trọng trong vận tải hàng hóa quốc tế. Vậy giao nhận là gì? Có rất nhiều định nghĩa về giao nhận. Định nghĩa thứ nhất : theo Quy tắc mẫu của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận quốc tế (FIATA): (Giáo trình vận tải giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu - PGS.
TS Hoàng Văn Châu) Dịch vụ giao nhận (Freight forwarding service) là bất cứ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ hoặc có liên quan đến các dịch vụ trên kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Định nghĩa thứ hai : theo điều 233 Luật Thương mại Việt Nam 2005: Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc người làm dịch vụ giao nhân khác (gọi chung là khách hàng). => Như vậy, về cơ bản: giao nhận hàng hóa là tập hợp những công việc có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng). SVTH: Phạm Thị Thùy Trang MSSV: 107401219 Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: Th.S Trần Thị Trang 1.2 Vai trò và chức năng của nghiệp vụ giao nhận Vai trò quan trọng của giao nhận ngày càng được thể hiện rõ trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay.
Thông qua: - Giao nhận tạo điều kiện cho hàng hóa lưu thông nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm mà không cần có sự tham gia của người gửi cũng như người nhận tác nghiệp. - Giao nhận giúp cho người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ quay vòng của phương tiện vận tải tận dụng tối đa và hiệu quả sử dụng của các phương tiện vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác - Giao nhận giúp giảm giá thành các hàng hóa xuất nhập khẩu do giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt chi phí như: chi phí đi lại, chi phí đào tạo nhân công, chi phí cơ hội,.3 Người giao nhận 1.1 Khái niệm Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về người giao nhận, nhưng chưa có một định nghĩa nào về người giao nhận được quốc tế chấp nhận. Theo Quy tắc mẫu của FIATA: người giao nhận là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân anh ta không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm nhận thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như: bảo quản, lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan, kiểm hóa….
Theo điều 234 Luật thương mại Việt Nam 2005: người giao nhận là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh về dịch vụ giao nhận hàng hóa. Như vậy, người giao nhận có thể là: Chủ hàng: khi chủ hàng tự đứng ra đảm nhận công việc giao nhận hàng hóa của mình. Chủ tàu: khi chủ tàu thay mặt người chủ hàng thực hiện dịch vụ giao nhận. Đại lý hàng hóa, công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên chở hay bất kỳ người nào có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa.
Nói tóm lại người giao nhận là người: Hoạt động theo hợp đồng ủy thác với chủ hàng, bảo vệ lợi ích của chủ hàng. Lo việc vận tải nhưng chưa hẳn là người vận tải. Người giao nhận có thể là người có hoặc không có phương tiện vận tải, có thể sử dụng thuê mướn người vận SVTH: Phạm Thị Thùy Trang MSSV: 107401219 Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: Th.S Trần Thị Trang tải hoặc trực tiếp tham gia vận tải. Nhưng phải ký hợp đồng ủy thác giao nhận với chủ hàng là người giao nhận chứ không phải là người vận tải.
Làm một số việc khác trong phạm vi ủy thác của chủ hàng. Nhưng nhìn chung, ở các nước khác nhau tên gọi của người giao nhận có khác nhau (Forwarder, Frieght Forwarder, Forwarding Agent) nhưng điều có chung một tên giao dịch quốc tế là: người giao nhận hàng hóa quốc tế (International freight forwarder) và cùng làm dịch vụ giao nhận.2 Quyền và nghĩa vụ của người giao nhận Điều 235 Luật thương mại Việt Nam quy định, người giao nhận có những quyền và nghĩa vụ sau: Người giao nhận được hưởng tiền công và các khoản thu nhập hợp lý khác. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng.
Sau khi ký kết hợp đồng, nếu xảy ra trường hợp dẫn đến việc không thực hiện được toàn bộ hoặc một phần những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo cho khách hàng biết để xin chỉ dẫn thêm. Trong trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời gian hợp lý. Quyền và nghĩa vụ khi người giao nhận là đại lý Tùy theo chức năng của người giao nhận, người giao nhận phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng đã ký kết và phải chịu trách nhiệm về: - Giao hàng không đúng chỉ dẫn của khách hàng. Mắc phải những lỗi như là xếp dỡ không đúng theo chỉ dẫn tránh mưa, tránh nắng, đổ vỡ….
- Quên không mua bảo hiểm cho hàng hóa mặc dù đã có chỉ dẫn của khách hàng có thể vì quên hay có tình không mua vì cho không quan trọng. Nếu lô hàng bị tổn thất trên đường vận chuyển và không nhận được tiền đền bù, người giao nhận phải chịu trách nhiệm về khoản đền bù đó. - Sai sót trong quá trình làm thủ tục hải quan. SVTH: Phạm Thị Thùy Trang MSSV: 107401219 Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: Th.S Trần Thị Trang - Chở hàng đến sai nơi quy định.
Có thể là do người giao nhận khi ký kết hợp đồng vận chuyển với người vận tải đã không quy định cụ thể địa điểm đưa hàng đến làm mất thêm khoản chi phí vận chuyển hàng trở về đúng địa điểm, khoản chi phí này người làm dịch vụ giao nhận phải chịu. - Giao hàng cho người không phải là người nhận hàng. - Giao hàng mà không thu tiền người nhận hàng. - Tái xuất không tuân theo những thủ tục cần thiết để xin hoàn thuế lại.
- Chịu trách nhiệm về người và tài sản của người thứ ba mà người giao nhận gây ra. - Tuy nhiên, một số trường hợp người giao nhận không chịu trách nhiệm về hành vi lỗi lầm của người thứ ba (người chuyên chở hoặc người giao nhận khác) gây ra…nếu người giao nhận chứng minh được rằng đó là sự lựa chọn cần thiết. - Khi làm đại lý giao nhận phải tuân theo nguyên tắc “ điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn” (Standard Trading Condition) của mình. Quyền và nghĩa vụ khi người giao nhận là người chuyên chở Khi là một nhà chuyên chở người giao nhận đóng vai trò là một nhà thầu độc lập nhân danh mình chịu trách nhiệm cung cấp các dịch vụ mà khách hàng yêu cầu.