lời mở đầu, tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài. Chương II: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ LOGISTICS Qua chương này ta sẽ hiểu rõ hơn về khải niệm, đặc điểm, vai trò, phạm vi hoạt động dịch vụ cũng như lý thuyết tổng quát về quy trình giao nhận vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không mà em đã học được Chương III: THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI KLM Chương này sẽ giới thiệu về công ty nghiên cứu sinh đang thực tập cũng như quy trình thực tế về việc giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không và nhận xét và điểm mạnh và hạn chế còn tồn tại của công ty. Chương IV: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CUNG ỨNG DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI KLM 12 Ở chương này là những giải pháp, kiến nghị được rút ra từ việc nghiên cứu sinh vận dụng từ lý thuyết đã học được và những trải nghiệm thực tế tại công ty. CHƯƠNG II.
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DỊCH VỤ LOGISTICS 2.1 Các khái niệm cơ sở của đề tài 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Định nghĩa về dịch vụ Dịch vụ được xem như là bộ phận đem lại giá trị vô hình cho nền kinh tế. Theo quan điểm về Marketing hiện đại (trong giáo trình Nguyên lý Marketing), Kotler và Armstrong cũng đã đưa ra định nghĩa về dịch vụ: “Dịch vụ là bất kì hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không mang tính sở hữu nào cả”. Dịch vụ có 4 tính chất cơ bản: − Tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ có nghĩa là các dịch vụ không thể được nhìn thấy, nếm, cảm nhận, nghe hoặc ngửi trước khi chúng được mua. − Tính không thể tách rời: Đặc thù của dịch vụ là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời cùng một lúc.
Nếu một người nào đó thuê dịch vụ thì bên cung cấp dịch vụ sẽ là một phần của dịch vụ đó. Bởi vì khách hàng cũng sẽ có mặt lúc dịch vụ được cung cấp nên sự tương tác giữa bên cung cấp dịch vụ và khách hàng là một đặc tính đặc biệt của dịch vụ − Tính hay thay đổi: Thể hiện ở đặc điểm chất lượng của dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp dịch vụ, thời gian, địa điểm và cách thức cung cấp dịch vụ. − Tính dễ bị phá vỡ: Dịch vụ khác với các hàng hóa thông thường ở chỗ nó không thể cất giữ. Nói cách khác, dịch vụ nhạy cảm hơn các hàng hóa thông thường trước những thay đổi và sự đa dạng của nhu cầu.2 Định nghĩa về vận chuyển Trong nghĩa rộng, vận chuyển hàng hóa là một quy trình kỹ thuật của bất kì sự di chuyển vị trí nào của vật phẩm.
Còn trong phạm vi kinh tế (nghĩa hẹp), vận chuyển chỉ bao gồm những sự di chuyển của vật phẩm khi thỏa mãn đồng thời hai tính chất: là hoạt độn g sản xuất vật chất và hoạt động kinh tế độc lập. (Giáo trình Logistics và vận tải quốc tế, Trường Đại học Ngoại Thương,2009) Ngoài ra, vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của hàng hóa và của con người từ nơi này tới nơi khác bằng các phương tiện vận tải. (Giáo trình Quản trị Logistics kinh doanh, Trường Đại học Thương Mại,2018) Vận chuyển hàng hóa, xét theo quan điểm quản trị logistics, là sự di chuyển hàng hóa trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm thực hiện các yêu cầu của 13 mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ tiếp cận này, hoạt động vận chuyển hàng hóa được xem như là sợi dây kết nối các hoạt động mang tính chất tác nghiệp sản xuất kinh doanh tại nhiều địa bàn khác nhau của một doanh nghiệp.
Vai trò chính của vận chuyển là cung cấp nguyên vật liệu, bán thành phẩm và hàng hóa đầu vào cho các cơ sở trong mạng lưới logistics. Bên cạnh đó, một vai trò quan trọng khác của vận chuyển là cung ứng hàng hóa tới khách hàng đúng thời gian, địa điểm yêu cầu, đảm bảo an toàn hàng hóa với một mức chi phí hợp lý. Hoạt động vận chuyển là một bộ phận quan trọng của quản trị logistics, góp phần hoàn thành ha i mục tiêu trong doanh nghiệp là nâng cao chất lượng dịch vụ logistics và giảm tổng chi phí của toàn bộ hệ thống.3 Định nghĩa về giao nhận và người giao nhận Trong mua bán quốc tế, việc vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu từ người bán sang người mua được tiến hàng và đảm nhiệm bởi người vận tải, đây là giai đoạn rất quan trọng, nếu thiếu khâu này dẫn đến hợp đồng buôn bán không thể thực hiện. Người mua và người bán trong buôn bán ngoại thương đến từ các quốc gia riêng biệt, vì vậy quá trình vận chuyển hàng trải qua nhiều công đoạn khác nhau liên quan đến việc chuyên chở.
- Khái niệm giao nhận hàng hóa Theo FIATA: “Giao nhận hàng hóa là tập hợp những nghiệp vụ thủ tục có liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa nhằm mục đích di chuyển hàng hóa từ nơi gửi đến nơi nhận”. - Khái niệm dịch vụ giao nhận hàng hóa Ngày 29/10/2004, Hiệp hội Giao Nhận Quốc Tế FIATA cùng với Hiệp hội châu Âu về các dịch vụ giao nhận, vận tải, logistics và hải quan đã thống nhất đưa ra khái niệm về dịch vụ giao nhận vận tải và logistics. Khái niệm đó như sau: “Giao nhận vận tải là bất kì dịch vụ nào liên quan đến chuyên chở, gom hàng, lưu kho, xếp dỡ, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn có liên quan đến các dịch vụ kể trên, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn ở những vấn đề hải quan hay tài chính, khai báo hàng hóa cho những mục đích chính thức, mua bảo hiểm cho hàng hóa và thu tiền hay lập các chứng từ liên quan đến hàng hóa. Dịch vụ giao nhận bao gồm có dịch vụ logistics cùng với công nghệ thông tin hiện đại liên quan chặt chẽ đến quá trình vận tải, xếp dỡ hoặc lưu kho bãi và quản lý chuỗi cung ứng trên thực tế.
Những dịch vụ này có thể được cung cấp để đáp ứng với việc áp dụng linh hoạt các dịch vụ được cung cấp.” Trong điều 163 của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, nội dung như sau: “Dịch vụ giao nhận là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người 14 vận tải hoặc người giao nhận khác. Tuy nhiên, theo thời gian, toàn cầu hóa phát triển không ngừng và hội nhập kinh tế quốc tế trên toàn thế giới diễn ra nhanh hơn, thuật ngữ “dịch vụ giao nhận” đã không còn được sử dụng thường xuyên trong các văn bản quy phạm pháp luật bởi vì không thể hiện được các quy trình cần có để thực hiện việc xuất nhập khẩu. “Dịch vụ logistics” – thuật ngữ mới ra đời thay thế “dịch vụ giao nhận”. Điển hình, năm 2005, Luật thương mại sửa đổi của Việt Nam đã không còn nhắc đến “dịch vụ giao nhận” thay vào đó định nghĩa “dịch vụ logistics” với nội dung như sau tại điều 233: “Dịch vụ logistics là ho ạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc.” Theo đó, quy trình giao nhận hiện tại không còn đơn giản là một tập hợp các hoạt động và thủ tục liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa từ người gửi đến người nhận. Giao nhận hiện nay chỉ là một phần trong quá trình Logistics. Mặc dù vậy, đây vẫn là một dịch vụ quan trọng, bao gồm nhiều hoạt động khác như tổ chức vận chuyển, lưu trữ, thực hiện các thủ tục hải quan và các dịch vụ khác liên quan để giao hàng cho người nhận dưới sự ủy thác của chủ hàng. - Khái niệm người giao nhận Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là Người giao nhận (NGN).
NGN có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác có đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Theo Luật Thương mại Việt Nam thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa. Theo Hiệp Hội Giao Nhận Quốc Tế - FIATA thì: “NGN là người lo toan để hàng hóa được chuyên chở theo hợp đồng ủy thác và hành động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân NGN không phải là người vận tải, NGN cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhận như bảo quản, lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan, v.2 Đặc diểm của vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không − Ưu điểm: Giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không đã trở nên phổ biến trong thời đại hiện nay, bởi nó có những đặc điểm khác biệt so với các phương thức khác: • Thời gian vận chuyển 15 Giao nhận hàng hóa bằng đường hàng không nhanh chóng hơn so với các phương thức vận chuyển khác. Đây là một lợi thế lớn đối với những mặt hàng có yêu cầu giao hàng gấp hoặc cần đến nhanh.
• Giảm rủi ro thiệt hại Doanh nghiệp luôn muốn giảm thiểu tối đa những rủi ro khi xuất khẩu hàng hóa Vận chuyển qua đường hàng không có nghĩa là giao hàng nhanh hơn và ít phải xử lý các mặt hàng trong quá trình vận chuyển. Vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không cho đến nay rất an toàn và có mức độ rủi ro thiệt hại thấp • An toàn và an ninh cao Với quy trình an ninh nghiêm ngặt và kiểm tra hàng hóa đảm bảo ngăn chặn việc vận chuyển vật phẩm nguy hiểm.