CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CÀ PHÊ THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CÀ PHÊ THẾ GIỚI: 1.1 Tình hình sản xuất cà phê ở một số nước: Cây cà phê được biết đến vào cuối thế kỷ thứ 15, có nguồn gốc ở Bắc Phi. Trồng cà phê trở thành một ngành sản xuất và ngày càng phát triển mạnh. Trên thế giới hiện nay có khỏang 75 nước trồng cà phê, tổng diện tích trên 13 triệu ha, sản lượng hàng năm biến động từ 5,5-6 triệu tấn cà phê nhân. Sản lượng cà phê đã gia tăng nhanh chóng trong các năm qua, kể từ niên vụ 1999/2000 sản lượng cà phê thế giới đã đột biến tăng nhanh lên 115 triệu bao, tạo nên sự tăng trưởng rộng khắp trên thị trường cà phê thế giới.1: SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân (60 kg/bao) Ước Vụ mùa 2001/02 2002/03 2003/04 2004/05 2005/06 06/07 Sản xuất 112.2: SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ THẾ GIỚI CỦA 3 NƯỚC ĐỨNG ĐẦU ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân (60kg/bao) Ước Vụ mùa 2001/02 2002/03 2003/04 2004/05 2005/06 06/07 Braxin 33.200 Ba nước đứng đầu 57.480 Các nước khác (châuPhi, 54.130 Trung Mỹ,…) Tổng cộng 112.610 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 14 - (Nguồn: Commodity Expert 2003 + NKG Statical Unit 22/9/04 + NKG Stastical Unit 03 Feb 2006 và NKG Stastical Unit Sep 2006) Braxin là nước đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê.
Trước đây, Colombia - một nước Nam Mỹ đứng thứ hai, sau đó Việt Nam đã nhẩy lên vị trí thứ hai thay thế Colombia. Có 2 loại cà phê có giá trị thương mại là cà phê vối (Robusta) và cà phê chè (Abrica). Việt Nam, nước sản xuất cà phê Robusta lớn nhất thế giới, dự kiến đạt khoảng 14,5 triệu bao năm 2006-2007.3: SẢN LƯỢNG CÀ PHÊ ROBUSTA TRÊN THẾ GIỚI ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân (60 kg/bao) Sản xuất 2001/02 2002/03 2003/04 2004/05 2005/06 Việt nam 12.950 Bờ biển Ngà 4.560 hàng đầu Các nước 4.120 khác Tổng cộng 45. Licht 2001-2005 và NKF Stastical Unit 22/9/04 và NKG Stastical Unit 03 Feb 2006 và NKG Stastical Unit Sep 2006) Vị thế của cà phê Robusta dần dần chiến ưu thế trên thị trường, đặc biệt là cà phê Robusta Việt Nam có hương vị đặc trưng rất được châu Âu ưa chuộng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình xuất nhập khẩu cà phê trên thế giới Nhu cầu tiêu thụ cà phê của thế giới ngày càng gia tăng, hoạt động mua bán rất nhộn nhịp trên các thị trường BẢNG 1.4: TIÊU THỤ CÀ PHÊ TRÊN THẾ GIỚI ĐVT: 1.000 bao cà phê nhân (60 kg/bao) Nước tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006 thụ Tây Âu 36.653 Mỹ Nam Mỹ 16.416 (Nguồn: NKG Stastical Unit 03 Feb 2006) Với số liệu trên, rõ ràng nhu cầu tiêu thụ cà phê thế giới ngày càng tăng BẢNG 1.5: LƯỢNG NHẬP KHẨU CÀ PHÊ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐVT: 1000 bao cà phê nhân (60 kg/bao) Nước nhập 2000 2001 2002 2003 2004 2005 U.013 Tây Ban Nha 3.699 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.641 Cộng hoà Séc 798 938 919 1. Kinh nghiệm xuất khẩu cà phê ở một số nước Braxin là một nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới, cung cấp một lượng cà phê lớn cho thị trường thế giới với hai chủng loại chính, đó là: Cà phê Arabica và cà phê Robusta. Đây là một nước thực sự đóng một vai trò quan trọng trên thị trường cà phê thế giới về sản lượng, chất lượng và có khả năng hạn chế sự giảm giá trên thị trường.
Chất lượng cà phê Arabica của Braxin có hương vị đặc trưng, được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, đặc biệt là khu vực Bắc Mỹ như Mỹ, Canada rất thích uống loại cà phê này. Ngoài hương vị ngon, chất lượng cà phê nhân xuất khẩu rất ổn định do công nghệ thu hoạch và bảo quản rất tốt. Bên cạnh đó Nhà nước cũng có những chính sách rất tích cực trong việc giữ vững được giá cả trên thị trường, bằng chứng cho thấy giá cà phê trên thế giới giảm, nhưng tốc độ giảm giá ở thị trường London rất mạnh và nhanh, trong khi đó giá cà phê trên thị trường New York giảm ở mức độ thấp hơn. Braxin có những chính sách hỗ trợ giá cho nông dân bằng cách Nhà nước có những kế hoạch dự trữ hợp lý, tổ chức những cuộc đấu thầu mua cà phê với mức giá sàn, hạn chế được những rủi ro về sự giảm giá cho người nông dân vào thời điểm thu hoạch rộ.
Colombia là một nước sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng thứ ba trên thế giới (sau Braxin và Việt Nam), cũng có những chính sách xuất khẩu rất hiệu quả, cà phê nhân cung cấp ra thị trường có chất lượng cao. Do công nghệ thu hoạch và chế biến tốt. Hầu hết sản lượng cà phê nhân xuất khẩu đều được chế biến bằng công nghệ chế biến ướt nên sản phẩm có giá trị cao, chất lượng ổn định tạo được nhiều trị giá gia tăng trong sản phẩm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM: 1.1 Sự hình thành và phát triển ngành cà phê Việt Nam: Có thể phân chia quá trình hình thành và phát triển của ngành cà phê Việt Nam thành các giai đoạn chính sau đây: Giai đoạn trước năm 1975 Ngành cà phê Việt Nam có lịch sử muộn hơn rất nhiều so với ngành gạo vốn là cây nông nghiệp truyền thống lâu đời của Việt Nam. Cây cà phê theo chân người Pháp vào năm 1870 (có tài liệu cho rằng cây cà phê được nhà truyền đạo công giáo đưa vào Việt Nam từ năm 1857).
Thời gian đầu, cây cà phê được phát triển ở các đồn điền của Pháp với diện tích rất nhỏ. Đến năm 1930, cả nước có khoảng 5.900 ha cà phê. Năm 1966, miền Bắc có khoảng 13.000 ha tập trung ở các nông trường quốc doanh nhưng từ đó cho đến trước năm 1975, các nông trường cà phê ở miền Bắc bị chặt phá và hầu như không phát triển. Giai đoạn sau năm 1975 Từ sau năm 1975, đất nước thống nhất, dựa vào nguồn vốn tự có và sự viện trợ của các nước Đông Âu, diện tích cà phê tăng mạnh và tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên.800 ha sản xuất cà phê (diện tích trồng cà phê là 22.500 ha, trong đó có những diện tích trồng thực nhưng không cho năng suất), năm 1984 là 19.500 ha, đến năm 1990 đạt 92.
Tính trung bình từ năm 1980 đến năm 1990, tốc độ tăng trưởng diện tích sản xuất cà phê là khoảng 28%/năm. Trong giai đoạn này, năng suất cà phê đạt trung bình 0,81tấn/ha, tốc độ tăng trung bình khoảng 6,5%/năm. Giai đoạn này đánh dấu bởi sự phát triển mạnh của kinh tế hộ gia đình do chính sách đổi mới kinh tế thực hiện từ năm 1986, Nhà nước hỗ trợ tiền thuê đất, tiền giống và hỗ trợ tín dụng đã làm cho diện tích cà phê tăng mạnh ở các vùng Đắc lắc, Lâm Đồng và các khu vực khác mới được khai hoang, mở đất. Người dân đến các “vùng kinh tế mới” thực chất là đến các vùng dân tộc thiểu số, tự khai hoang mở đất không có giới hạn hoặc được chia đất và được Nhà nước thừa nhận.
Thêm vào đó, giai đoạn này, giá cà phê trên thế giới tăng mạnh đã khiến cho người dân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 18 - tập trung hơn vào chăm sóc, phát triển thêm diện tích cà phê nhằm tăng thu nhập, nâng cao đời sống của mình. Nhà nước cũng đạt được nhiều lợi ích từ hoạt động sản xuất cà phê của nông dân thông qua các lợi ích mà các doanh nghiệp Nhà nước xuất khẩu cà phê đem lại. Thời kỳ 1990-1999: diện tích sản xuất, năng suất, sản lượng và số lượng xuất khẩu đều tăng mạnh do nhu cầu cà phê trên thế giới tăng, trong khi nguồn cung bị hạn chế đã đẩy giá cà phê tren thị trường thế giới tăng cao. Điều đó khiến cho diện tích sản xuất cà phê tăng mạnh, trung bình mỗi năm tăng 19%.
Diện tích sản xuất cà phê năm 1999 tăng gấp 4 lần so với năm 1991 và gấp 49 lần so với năm 1980. Năng suất giai đoạn này cũng tăng trung bình 8,3%/năm và đạt trung bình khoảng 1,65 tấn/ha, tăng gấp đôi so với giai đoạn từ 1980 đến 1990. Năm 1995 được xem là thời hoàng kim của cà phê Việt Nam, nông dân trồng cà phê chỉ cần bán 1 kg cà phê là đã đủ tiền mua lại được hơn một yến gạo, và cà phê được ví là “vàng đen”. Thời kỳ 2000-2003: ngành cà phê thế giới rơi vào giai đoạn khủng hoảng thừa.
Giá cà phê thế giới giảm xuống mức kỷ lục vào năm 2001, thấp nhất trong vòng 40 năm trở lại đây. Giá cà phê giảm đã đẩy cuộc sống của người dân đối mặt với cảnh nghèo, nợ nần. Người dân buộc phải chặt cây cà phê để thay thế bằng cây khác hoặc bỏ mặc diện tích cà phê không chăm sóc, dẫn đến diện tích sản xuất cà phê giảm đến 65.000 ha từ năm 2001 đến năm 2003, sản lượng giảm khoảng 80. Trước những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng, Nhà nước áp dụng chính sách trợ cấp xuất khẩu tối đa 2% giá trị tăng trưởng xuất khẩu của năm trước.
Khi giá cà phê giảm xuống, đời sống nhân dân bị ảnh hưởng, Ủy ban nhân dân địa phương có cây cà phê đã chỉ đạo hạn chế cung cấp các dịch vụ khuyến nông dành riêng cho cây cà phê và đa dạng hóa các sản phẩm nông sản khác, đa dạng sản phẩm ngay trong chính ngành cà phê với mục tiêu tăng diện tích, sản lượng cà phê chè. Thời kỳ phục hồi: Giá cà phê năm 2004 vẫn ở mức thấp nhưng đã tăng lên nhiều so với năm 2001. Chỉ đến năm 2005, 2006, giá cà phê đã tăng trở lại và ở mức cao nhất trong vòng hơn 10 năm trở lại đây. Giá cà phê trung bình năm 2006 là từ 1.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Thực trạng phát triển cà phê Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất cà phê Việt Nam Diện tích gieo trồng và sản lượng: Ngành cà phê đã có những bước phát triển vượt bậc nhanh chóng, khoảng nửa triệu ha cà phê được trồng trong 15 năm và cho sản lượng hàng năm trên 700.000 tấn kể từ niên vụ 1999/2000, Việt Nam đã trở thành nước sản xuất cà phê thứ hai trên thế giới và đứng nhất về xuất khẩu cà phê Robusta. Điều kiện khí hậu và địa lý Việt Nam rất thích hợp với việc phát triển cà phê. Phía Nam thuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta. Khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với cà phê Arabica.