CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển thương mại quốc tế Cơ sở lý thuyết về phát triển thương mại quốc tế, trong đó bao hàm nội dung chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu được đề cập trong nhiều học thuyết kinh tế như học thuyết trọng thương, lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lợi thế so sánh của David Ricardo, lý thuyết về sự ưu đãi của các yếu tố còn gọi là lý thuyết Heckscher - Ohlin. Trong đó, các nghiên cứu khẳng định rằng thương mại quốc tế tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia với nhau.
Thương mại quốc tế giúp phân bổ tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới, chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa chủng loại và tăng chất lượng của hàng hóa, tối đa hóa hiệu quả thị trường xuất khẩu. Các lý thuyết phát triển thương mại quốc tế cũng chỉ rõ sự khác biệt về lợi thế của mỗi quốc gia như điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, các yếu tố sản xuất và đặc biệt nhấn mạnh yếu tố cơ chế chính sách và môi trường kinh tế vĩ mô tác động đến thương mại quốc tế. Ngoài ra, các quốc gia có lợi thế kinh tế nhờ quy mô với sự tập trung sản xuất lớn, giảm chi phí sản xuất và lao động dồi dào sẽ có lợi thế trong trao đổi thương mại dưới tác động của thương mại tự do. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia (Michael Porter (1990), giải thích tại sao một số quốc gia lại có được vị trí dẫn đầu trong việc sản xuất một số sản phẩm, hay nói khác đi tại sao lại có những quốc gia có lợi thế cạnh tranh về một số sản phẩm.Porter đã kết hợp được các cách giải thích khác nhau trong các lý thuyết thương mại quốc tế trước đó và đồng thời đưa ra một khái niệm khá quan trọng là lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Theo “mô hình kim cương” của M. Porter, lợi thế cạnh tranh quốc gia được thể hiện ở sự liên kết của 4 nhóm yếu tố. Mối liên kết này tạo thành mô hình kim cương. Các nhóm yếu tố đó bao gồm: (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện về cầu, (3) các 8 ngành công nghiệp liên kết và hỗ trợ có liên quan, (4) Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh của ngành.
Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau và hình thành nên khả năng cạnh tranh quốc gia. Ngoài ra, còn có hai yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ hội. Đây là hai yếu tố có thể tác động đến 4 yếu tố cơ bản kể trên, ví dụ như quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu và ở cấp độ cao hơn là xu hướng phát triển các thỏa thuận thương mại đã làm thay đổi các yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh dẫn đến làn dịch chuyển các thị trường xuất khẩu dưới tác động của các cam kết thuế quan và phi thuế quan, đòi hỏi các nước phải xây dựng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu phù hợp (Hình 1. Điều kiện về cầu Các ngành công Các yếu tố sản nghiệp liên kết và xuất hỗ trợ Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh của ngành Hình 1.
1: Mô hình kim cương Nguồn: Michael Eurene Porter (1990) Sunil Sinha, Johan Holmberg and Mark Thomas (2013) xem xét các luận cứ khoa học về công tác phát triển thị trường nhằm hai mục tiêu: làm rõ cơ sở khoa học về công tác phát triển thị trường và hình thành khung khổ/chuỗi các hoạt động phát triển thị trường. Nghiên cứu này cũng tập trung nghiên cứu các lý thuyết về sự thay đổi đối với phát triển khu vực tư nhân, hệ thống tài chính và phát triển thương mại, từ đó hình thành khung khổ và chuỗi các hoạt động và hỗ trợ phù 9 hợp đối với khu vực tư nhân, hệ thống tài chính và thương mại nhằm đạt được các mục tiêu phát triển thị trường. Tuy nhiên, trong nhiều ngành sản xuất, lợi thế so sánh từ lâu đã không giải thích được đầy đủ các hoạt động thương mại. Hiện nay, chưa có lý thuyết nào có thể giải thích đầy đủ về bản chất của thương mại quốc tế, mà mới giải thích bằng các lợi thế tạm thời.
Đó là lợi thế về quy mô, lý thuyết vòng đời sản phẩm, lý thuyết về khoảng cách công nghệ, vai trò của thị trường nội địa, vai trò của các công ty đa quốc gia và nước đặt trụ sở của công ty đa quốc gia. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng minh rằng phát triển thương mại quốc tế tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua việc tạo điều kiện cho tích lũy vốn, thay đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp, tiến bộ công nghệ và hoàn thiện thể chế, chính sách thương mại quốc tế. Cụ thể, việc tăng nhập khẩu vốn và các sản phẩm trung gian như nguyên vật liệu, linh phụ kiện không có sẵn, hoặc thị trường nội địa không cung cấp đủ, có thể làm tăng năng suất của ngành sản xuất (Lee, 1995). Thông qua thương mại quốc tế, các quốc gia tham gia tích cực hơn vào hoạt động này thông qua thúc đẩy xuất, nhập khẩu, dẫn đến cạnh tranh gay gắt hơn và cải thiện năng suất (Wagner, 2007).
Ngoài ra, lợi ích của tự do hóa thương mại chủ yếu được tạo ra từ môi trường bên ngoài, chính sách thương mại phù hợp và cấu trúc của mô hình thương mại. Trước những năm 1960, các nghiên cứu về tác động thương mại chỉ giới hạn ở một số quốc gia cụ thể. Hamanaka (2010) đã xây dựng khung lý thuyết để phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do tới nền kinh tế của các nước thành viên bằng mô hình cân bằng tổng thể và mô hình lực hấp dẫn. Thông qua hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá mức độ mở rộng thương mại, đa dạng hóa mặt hàng xuất nhập khẩu, phúc lợi của các nước thành viên có được từ FTA và các kênh tác động của các cam kết hội nhập.
Tuy nhiên, với sự phát triển của lý thuyết thương mại và kinh tế lượng, nhiều phương pháp phức tạp dựa trên một mô hình toán đã được đưa ra để phân 10 tích tác động tự do hóa thương mại và thương mại quốc tế đến tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Liên bang Nga và Khu vực Liên minh kinh tế Á-Âu Trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia với Liên bang Nga, Đỗ Minh Hạnh (1998) đã nghiên cứu bối cảnh kinh tế Liên bang Nga, thực trạng thị trường và các đặc điểm nổi bật của thị trường Liên bang Nga qua hai thời kỳ trước và sau 1990 để đánh giá triển vọng quan hệ này trong thời gian tiếp theo. Ngiên cứu đã kiến nghị các giải pháp nhằm khôi phục và phát triển quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Trịnh Thị Thanh Thủy (2007), cũng khái quát hoá, phân tích và đánh giá những vấn đề lý luận về thương mại quốc tế, đặc biệt tập trung vào hoạt động xuất nhập khẩu và phân tích nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển quan hệ thương mại quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghiên cứu đánh giá và phân tích vị trí, vai trò của thị trường Liên bang Nga trong hoạt động thương mại quốc tế, và trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; những thành tựu đạt được, cũng như những hạn chế và phân tích nguyên nhân trong quá trình phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước. Nghiên cứu cũng phân tích, dự báo bối cảnh quốc tế mới, cơ hội và thách thức cũng như thuận lợi và khó khăn đối với tiến trình phát triển cũng như xác định quan điểm và phương hướng phát triển quan hệ thương mại quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Liên bang Nga và đề xuất 03 nhóm giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Liên bang Nga trong bối cảnh hai nước tiếp tục thực hiện tự do hoá thương mại. Trên khía cạnh xây dựng chiến lược, chính sách phát triển thương mại quốc tế, Đinh Văn Thành (2010), đã đưa ra luận cứ khoa học xây dựng chiến lược phát triển thương mại Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 và giải quyết những nội dung cơ bản bao gồm: (i) Tổng quan một số những vấn đề lý luận trong xây dựng chiến lược phát triển thương mại và làm rõ những nội dung của chiến lược phát triển thương mại ở nước ta, cũng như quy trình và tổ chức thực thi chiến lược phát triển 11 thương mại; (ii) Tổng kết, đánh giá tình hình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thương mại của Việt Nam thời kỳ 2001 – 2010, tạo cơ sở thực tiễn bổ ích cho việc định hướng xây dựng và thực thi chiến lược thương mại trong thời kỳ tới; (iii) Phân tích và dự báo bối cảnh quốc tế và trong nước trong những năm tới có tác động đến quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển thương mại Việt Nam thời kỳ 2011- 2020 và nêu lên những cơ hội và thuận lợi, những thách thức và khó khăn cho phát triển thương mại của Việt Nam thời; (iii) Xây dựng mục tiêu, định hướng chung và cụ thể nhằm phát triển xuất, nhập khẩu và thương mại trong nước thời kỳ 2011- 2020 gắn với bối cảnh và kịch bản phát triển.