MỞ ĐẦU 1. Lí do lựa chọn đề tài Dân số thế giới đang già hóa đến mức khó kiểm soát. Các nghiên cứu dự đoán rằng tốc độ già hóa sẽ gia tăng nhanh chóng trong vòng 40 năm tiếp theo và tỉ lệ dân số trên 60 tuổi sẽ chiếm 21% vào năm 2050 (United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division, 2013, dẫn theo Kagitcibasi, 2015:383) và nếu tỉ lệ sinh sản cao, xã hội sẽ không trở nên già hóa ngay cả khi số lượng người già tăng lên (Kagitcibasi, 2015:384). Tuy nhiên bức tranh chung về mô hình dân số ở các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam đang thể hiện sự gia tăng tỉ lệ người trên 65 tuổi và số dân trong độ tuổi phụ thuộc tăng dần được xem là hệ quả của sự suy giảm mức sinh trong thực tế.
Điều này càng làm gia tăng gánh nặng đối với người trong độ tuổi lao động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dân số nói riêng, sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Thực tế cho thấy rằng, hầu hết trong các gia đình hiện đại kế hoạch sinh sản tối ưu của nhiều cặp vợ chồng là giảm mức sinh và chú trọng đầu tư cho con cái, dẫn đến tỉ lệ sinh sản thấp, thậm chí chưa đạt mức sinh thay thế. Điều này còn chưa tính đến xu hướng kết hôn muộn và không sinh con, sự tiếp diễn thực trạng này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu dân số vàng. Số liệu thống kê về dân số Việt Nam hiện nay cho thấy số người trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 64 tuổi) cao hơn nhiều so với nhóm dân số dưới 15 tuổi và trên 64 tuổi.
Điều này đặt ra bài toán điều chỉnh mức sinh hợp lí và đồng đều giữa các nhóm xã hội ở các khu vực khác nhau để tạo ra sự cân bằng giữa các nhóm dân số cả về quy mô lẫn chất lượng. Do vậy, việc nghiên cứu những yếu tố tác động đến mức sinh có vai trò quan trọng đối với các chiến lược dân số. Nghiên cứu về giá trị con cái được xem là một trong những công cụ dùng để giải thích những thay đổi trong hành vi sinh sản đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà tâm lí học, kinh tế học, xã hội học, nhân học.Các nghiên cứu đã chỉ ra những hệ quả của hiện tượng tỉ lệ sinh sản thấp như vấn đề về sự tồn tại và phát triển của xã hội, mối quan hệ giữa thế hệ già và trẻ, chức năng của hệ thống bảo hiểm xã hội và đặc biệt lo ngại đến sự gia tăng tỉ lệ người già trong dân số (Mayer, 2010:673). Quan niệm về giá trị con cái là một phần lí giải của những động cơ sinh sản và qua đó chuyển hóa thành số con mong muốn thực tế của các cặp vợ chồng.
1 z Thực tế chỉ ra rằng, xã hội càng hiện đại, những nguồn lực thay thế càng trở nên sẵn có giúp các cá nhân thỏa mãn các nhu cầu tâm sinh lí của mình. Do vậy, việc sinh ít con sẽ được tìm kiếm, điều này dẫn đến xu hướng kết hôn muộn hoặc không kết hôn của các cá nhân là khá phổ biến, nhất là ở các khu đô thị lớn. Quan niệm về giá trị con cái là sự lượng giá những giá trị mà con cái mang lại bằng việc thỏa mãn những nhu cầu về tâm lí tình cảm hay những trải nghiệm hôn nhân của các bậc cha mẹ. Có một giả thuyết đặt ra rằng mức sinh có xu hướng giảm, ngoài do những yếu tố khách quan như điều kiện xã hội hay sự can thiệp của công nghệ hiện đại trong việc nạo phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi thì nhận thức chủ quan của mỗi người về giá trị con cái có sự tác động nào đến động cơ sinh sản của các cặp vợ chồng hay không? Xã hội đô thị mang đến nhiều cơ hội cho các cá nhân nhận diện và đánh giá những giá trị con cái ở phạm vi rộng và xa hơn, không đơn thuần chỉ dừng lại cái nhìn vật chất trước mắt như trong xã hội truyền thống.
Họ có cái nhìn sâu hơn trong việc đánh giá rằng, con cái sẽ giúp họ khám phá được chính bản thân mình như thế nào và bằng cách nào đó, thông qua con cái để khẳng định địa vị và uy tín xã hội mang bản sắc của riêng mình. Như vậy, việc quyết định sinh một con hay nhiều con có trở nên quan trọng bằng việc con cái họ giúp họ thỏa mãn những nhu cầu tâm lí, tình cảm và thể hiện bản thân ra sao? Do vậy, tác giả cho rằng nghiên cứu những quan niệm về giá trị con cái là một cách để giải thích những mong muốn và sự kì vọng của các cá nhân đối với con cái, qua đó lí giải được sự suy giảm mức sinh trong dân số.Xuất phát từ lí do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quan niệm về giá trị con cái trong các gia đình tại Hà Nội hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan nghiên cứu 2.Tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài Các nghiên cứu thực nghiệm về giá trị con cái thường tập trung giải quyết các câu hỏi như: Giá trị của con cái đối với cha mẹ là gì? Chúng có thể được đo lường như thế nào? Giá trị này có thể thay đổi theo tuổi, giới tính, thứ tự sinh, đặc điểm của bố mẹ (tuổi của bố mẹ), thu nhập gia đình và một vài khía cạnh khác về môi trường kinh tế xã hội không? Thậm chí vấn đề giá trị này được xem là phi lợi nhuận hay lợi nhuận? Liệu có thể ước lượng chi phí và lợi ích phi kinh tế liên quan 2 z đến kinh tế như một khía cạnh trong giá trị con cái như thế nào? Và giá trị thực sự của đứa trẻ chỉ có thể đạt được bởi sự kết hợp thích hợp của hai loại giá trị khác nhau này. Quan điểm về giá trị con cái được tiếp cận dưới góc độ tâm lí học, xã hội học, kinh tế học qua góc nhìn đặc thù của các học giả quốc tế đã mang đến một bức tranh đa dạng về giá trị con cái.
Từ góc độ tâm lí học, Hoffman đã tiến hành đo lường thực nghiệm về 9 cặp phạm trù về giá trị con cái và quan niệm chúng như sự thỏa mãn của các bậc cha mẹ về các nhu cầu tâm lí tình cảm mà đứa con mang lại. Đây được xem là cách tiếp cận giá trị con cái đầu tiên và là tiền đề cho các phát hiện và nghiên cứu về giá trị con cái sau đó. Theo Hoffman, giá trị con cái được nhìn nhận ở góc độ thỏa mãn những nhu cầu tâm lí và thể hiện bản sắc cá nhân chiếm vị trí nổi bật hơn so với những giá trị thuộc về vật chất kinh tế. Vấn đề đặt ra là, hiện nay có nhiều nguồn lực thay thế nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lí cá nhân, liệu chăng giá trị tâm lí của con cái có thể suy giảm, thay vào đó là sự gia tăng một vài giá trị khác liên quan đến việc con cái giúp bố mẹ đạt được những thành tựu gì và khẳng định được những gì thông qua chính đứa con của mình? Các nghiên cứu của Kagitcibasi lại tập trung lập luận cho quan điểm rằng: trong khi giá trị kinh tế suy giảm cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, các giá trị tâm lí không thay đổi thậm chí tăng (Kagitcibasi, 1982).
Việc đề cao các giá trị tinh thần mà đứa con mang lại được xem là quan điểm chủ đạo của các nghiên cứu tâm lí học. Xét về khía cạnh xã hội trong giá trị con cái, Nauck (2014) đưa ra thuật ngữ “Status symbol” tức là xem xét con cái như một vật sở hữu thể hiện được địa vị và uy tín của cha mẹ trong xã hội nhằm tạo ra sự công nhận xã hội (Klaus, 2007:531; Nauck, 2014:1804), trong khi tác giả khác lại so sánh trẻ em như “đồ gia dụng lâu bền - consumer durables” (Becker, 1960) hay “tài sản xã hội vô giá – invaluable social assets” (Population Council, 1997), tức là tính đến mạng lưới chi phí và lợi ích của việc có con. Như vậy, quan niệm về giá trị con cái được nhìn nhận ở những góc độ khác nhau và chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lí, xã hội và kinh tế. Một mặt con cái giúp cha mẹ thỏa mãn những nhu cầu tâm lí, tình cảm và tạo ra nguồn lợi nhuận vật chất, mặt khác con cái giúp cha mẹ khẳng định bản thân.
Đây được xem là bậc thang nhu cầu mà cha mẹ hơn hết là những người mong muốn được đáp ứng từ phía con cái. 3 z Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng nhất định đến nhận thức của các bậc cha mẹ về giá trị con cái. Do vậy, quan niệm về giá trị con cái là khác nhau ở các nước có trình độ phát triển kinh tế khác nhau. Cụ thể, tại Mỹ hay Đức và các quốc gia phát triển thì giá trị vật chất của con cái bao gồm cả giá trị bảo hiểm tuổi già chiếm vị trí tối thiểu, trái lại ở Thổ Nhĩ Kỳ và một vài nước kém phát triển như In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Thái Lan, nó lại chiếm tỉ lệ cao.
Thậm chí giữa các khu vực trong một quốc gia cũng phản ánh một khuôn mẫu chung rằng sự phát triển kinh tế chi phối định hướng của cha mẹ về giá trị con cái. Tại Thổ Nhĩ Kỳ khi mà mức độ phát triển kinh tế của vùng cư trú tăng thì sự nổi bật của giá trị bảo hiểm tuổi già giảm (100% ở vùng nông thôn kém phát triển; 73% ở những thị trấn nhỏ phát triển vừa vừa, 61% ở những thành phố phát triển hơn và 40% ở những trung tâm thủ đô) (dẫn theo Kagitcibasi & Ataca, 2015:376-377). Giả thuyết chính của các nghiên cứu đó là giá trị vật chất có mối quan hệ cao hơn với hành vi sinh sản bởi vì những nhu cầu kinh tế được đáp ứng đầy đủ nhất bằng cách có nhiều con nhất có thể, trong khi giá trị tình cảm có mối liên hệ yếu hơn với hành vi sinh sản bởi vì những nhu cầu tình cảm có thể được thỏa mãn bởi một hoặc hai đứa con cũng như (hoặc thậm chí có thể tốt hơn) bởi nhiều con. Nghiên cứu khác đề cập đến mối quan hệ giữa quan niệm về giá trị con cái và dự định về số con mong muốn của nhóm thanh niên ở 12 nền văn hóa khác nhau(Mayer & Trommsdorff, 2010).