CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA DE TÀI 11 Cơ sởlí luận 1.1 Các khái niệm công cụ 1.I Khái niệm “quan niệm ” Theo từ điển Tiếng việt: “Quan niệm” là việc hiểu, nhận thức như thế nào đó về một vấn đề hay chính là sự nhận thức như thế nào đó về một van đề, một sự kiện.2 Khai niệm “giá tri” Thuật ngữ “giá trị” có thể quy chiếu vào những mối quan tâm, những thích thú, những cái ưa thích, những sở thích, những bổn phận, những trách nhiệm tinh thần, những ước muốn, những đòi hỏi, những nhu cầu, những ác cảm, những lôi cuốn và nhiều hình thái khác nữa của định hướng lựa chọn (Pepper, 1958, dẫn theo Nguyễn Đức Truyền, 1991:1). Nói cách khác, giá trị có mặt trong thế giới rộng lớn và đa dạng của hành vi lựa chọn. Theo nghĩa hẹp, giá trị được coi là những quan niệm về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn. Định nghĩa nay có sự phân biệt giữa cái được mong muốn và cái đáng mong muốn, theo đó cách nhìn giá trị đã được xã hội hóa cao.
Trong cách nhìn rộng hơn thì bat cứ cái gì tốt hay xấu đều là giá trị hay giá trị là điều quan tâm của một chủ thé là con người (Perry, 1954, dẫn theo Nguyễn Đức Truyền, 1991:1). Dường như mọi giá trị đều chứa đựng một số yếu tố nhận thức, chúng có tính chất lựa chọn hay hướng dẫn và chúng bao gồm một số yếu tố tình cảm. Các giá trị được sử dụng như là những tiêu chuẩn cho sự lựa chọn khi hành động. Khi đã được nhận thức một cách công khai và đầy đủ nhất, các giá trị trở thành những tiêu chuẩn cho sự phán xét, sự ưa thích và sự lựa chọn.
Như vậy, xét theo khía cạnh này, khái niệm giá trị được quy theo hai nghĩa: một là sự đánh giá riêng biệt, tức là đối tượng được đánh giá, định giá như thế nào chứ không phải là những chuẩn mực nào đã được sử dụng để đánh giá; hai là được quy chiếu vào những tiêu chuẩn hay chuân mực có liên quan đến những đánh giá đã được đưa ra. Trong phạm vi của đề tài, tác giả sử dụng cách tiếp cận thứ nhất để khảo sát quan niệm của các bậc cha mẹ về giá tri con cái.3Khái niệm “Gia trị con cai” Thực tế, khái niệm “giá trị con cái” xuất hiện từ thập ki 70 của thé ki XIX như một cách tiếp cận tâm lí học, được nghiên cứu và vận dụng nham tìm hiểu về các quá trình nhân khâu học diễn ra trong gia đình (dẫn theo Ngô Thị Tuấn Dung, 2012:5). Khái niệm “giá trị con cái” xuất hiện lần đầu trong công trình của tác giả Hoffman và Hoffman (1973) và được vận dụng đề đo lường thực nghiệm các quyết định và hành vi sinh sản, trong đó có tính đến tác động của các yếu tố văn hóa xã hội khác nhau đến các quyết định và hành vi sinh sản của các cặp vợ chồng. Hoffman định nghĩa: “Giá tri con cái liên quan đến những chức năng mà con cái có thé đảm nhiệm hoặc những nhu cầu mà con cái có thé đáp ứng cho cha mẹ ở gia đình ”.
Pham vi ma đứa trẻ được nhìn nhận như là một sự hai lòng ở bat kì nhu cầu cá biệt nao, theo một gia tri chung nào đó, phụ thuộc vào: độ mạnh của nhu cầu, phạm vi mà đứa trẻ được xem như là một nguồn lực tiềm năng cho việc đáp ứng những nhu cầu về sự hài lòng và sự sẵn có của những nguồn lực thay thế trong việc đáp ứng những nhu cầu này. Đứa trẻ được xem như là đã thỏa mãn hoặc trên thực tế hoặc tiềm ấn những nhu cầu của bố mẹ chúng và bang cách đó cha me có thé định giá được giá trị mà đứa con mang lại cho họ. Như vậy, giá tri con cái được biểu hiện là sự thỏa mãn những nhu cầu cá biệt của các bậc cha mẹ mà trên thực tế đứa trẻ có thể đáp ứng cho họ hoặc là trực tiếp hoặc là tiềm năng. Việc đạt được sự thỏa mãn cao nhất của một giá trị nào đó tương đương là giá trị quan trọng nhất.2 Các lí thuyết tiếp cận 1.
Cách tiếp cận về giá trị con cái Khái niệm “giá trị con cái” xuất hiện lần đầu trong các nghiên cứu của Fawcett (1972, 1973) nhưng nhãn quan lí thuyết chính được phát trién bởi Hoffman and Hoffman (1973) qua các công trình nghiên cứu xuyên quốc gia nham tìm kiếm các lí giải cho hiện tượng tỉ lệ sinh sản cao ở nhiều nước đang phát triển trong bối cảnh giảm tỉ lệ sinh sản ở các xã hội phương Tây giau có (Nauck, 2014:1794). Theo Hoffman, giá trị con cái được thé hiện như một tam quan trọng đặc biệt ở các nên văn hóa đa dạng (Hoffman&Hoffman, 1973). Hoffman đã đưa ra 9 giá tri khi 14 nghiên cứu về giá trị con cái gồm: Tình cảm và mối quan hệ; Sự phấn khích và niềm vui; Phát triển và hoàn thiện bản thân; Địa vị trưởng thành và bản sắc xã hội; Kết quả đạt được và sáng tạo; Đạo đức; Lợi ích kinh tế; Quyền lực và ảnh hưởng; và So sánh xã hội. Mục đích nghiên cứu của ông là phát hiện ra những nhân tố quan trọng đề giải thích cho hành vi sinh sản quan sát được trong thực tế.
Kết quả nghiên cứu dang chú ý của ông chỉ ra rang giá trị con cái được nhìn nhận ở góc độ thỏa mãn những nhu cầu tâm lí và thé hiện ban sắc cá nhân chiếm vi trí nổi bật hơn so với những giá trị thuộc về vật chất kinh tế. Điều này cũng hoàn toàn dễ lí giải bởi, nghiên cứu đặt trong bối cảnh ở một đất nước mà tốc độ công nghiệp hóa mạnh như Mỹ, với phần lớn là dân cư đô thị và với hệ thống bảo hiểm xã hội được chính phủ hỗ trợ, con cái sẽ ít hơn bat cứ một noi nao khác dé có lợi về kinh tế. Phu nữ có xu hướng hướng tới những giá trị này nhiều hơn nam giới bởi với nam giới địa vị nghề nghiệp của họ đã phần nào đáp ứng được các nhu cầu này, trong khi phụ nữ thể hiện nhiều những nhu cầu tình cảm, điều này được cho là phù hợp với vai trò của người phụ nữ như người chăm sóc và nuôi dưỡng chính đối với con (Gurin, Veroff & Feld, 1960, dẫn theo Hoffman, 1978:96). Mặt khác, xã hội hiện đại là “nơi mà đứa trẻ không cau thành nên những tài sản kinh tế”, mà quan trọng hơn là “sự đòi hỏi những chi phí kinh tế”, khi đó phan lớn giá trị con cái được quy cho những giá tri tinh thần như niềm vui, sự tự hào (Fawcett, 1983; Kagitcibasi, 1982, 2007; Trommsdorff & Nauck, 2005 dẫn theo Kagitcibasi & Ataca, 2015:375).
Nếu như cách tiếp cận của Hoffman và các tác giả về giá trị con cái chủ yếu quan tâm đến các giá trị tâm lí, tình cảm mà làm mờ nhạt giá trị kinh tế thì các nhà nghiên cứu khác lại bổ sung các khía cạnh khi đánh giá về giá trị kinh tế của con cái. Ho cho rằng, mặc dù giá trị kinh tế của con cái trong gia đình có thể suy giảm hoặc biến mat nhưng giá tri của chúng như một nguồn lực xã hội vẫn ton tại. Có con là một trong những cách quan trọng giúp cá nhân tạo ra vốn xã hội cho chính họ bởi trẻ em tạo ra nguồn vốn xã hội bằng cách thiết lập mối quan hệ mới giữa các cá nhân (cha mẹ, ông bà, cô dì, chú bác, anh chi em, bạn bè), mà ở đó có những nguồn lực giúp họ đạt được những lợi ích nhất định [10]. Một vài tác giả khác đánh giá giá trị của con cái thông qua giá trị cơ hội của bố mẹ.
Becker (1960) so sánh trẻ em như “đồ gia dụng lâu bền” bởi chúng cung cấp những lợi ích nội tại nhưng không giống với tủ lạnh hay 6 tô, đứa trẻ cân đâu tư nhiêu vê thời gian vi sự chuyên đôi từ nên 15 nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, lợi ích kinh tế của trẻ em hầu như biến mat trong khi chi phí về giáo dục và các chi tiêu khác tăng lên một cách đáng kể. Hơn nữa, chi phí cơ hội của việc có con bị ảnh hưởng chủ yếu bởi sự biến đổi trong giá trị về cơ hội của bố mẹ. Giá trị về cơ hội tăng khi tiền lương biến đổi theo hướng di lên. Nếu đứa trẻ cần nhiều đầu tư về thời gian hơn hàng hóa và nếu giá trị thực sự của cơ hội con người tăng lên, lúc đó giá trị của đứa trẻ sẽ tăng trong mối quan hệ với hàng hóa khác.
Hơn nữa, sự chăm sóc con cái nhấn mạnh nhiều hơn đến cơ hội của người mẹ hơn cơ hội của bố và nếu giá trị về cơ hội của người phụ nữ tăng lên trong mối quan hệ với giá trị về cơ hội của đàn ông, lúc đó đứa trẻ trở nên đắt đỏ hơn và việc ít con sẽ được tìm kiếm. Xuất phát từ sự khái quát các luận điểm khoa học đã được kiểm chứng về giá trị con cái và các chiều cạnh có liên quan, đồng thời nhìn nhận tính hợp lí của phạm vi nghiên cứu trong đề tai, tác giả đưa ra một góc nhìn tông thé về giá trị con cái theo 5 nhóm giá tri gồm: giá trị tâm lí; giá trị tình cảm; giá trị kinh tế; giá trị hôn nhân va giá tri tự khẳng định. Lí thuyết vai trò giới của T. Parsons đã mở đường cho sự tranh luận về sự phân công lao động theo giới trong thuật ngữ về các vai trò.
Parsons chứng minh rằng, phụ nữ có một bản năng đối với việc nuôi dưỡng như là một kết quả về vai trò tái sinh sản của họ được dựa trên cơ sở sinh học, và điều này tạo cho họ phù hợp một cách lí tưởng với một vai trò tình cảm trong gia đình hạt nhân. Cấu trúc sinh học của nam giới thích hợp với vai trò công cụ trong gia đình, liên quan đến sự hỗ trợ/cung cấp kinh tế và liên hệ với thế giới bên ngoài gia đình. Với quan niệm này, người phụ nữ (trong vai trò người vợ) và nam giới (trong vai trò người chồng) có sự phân định chức năng riêng biệt, từ đó, phạm vi hoạt động (không gian xã hội) của họ cũng khác nhau, theo đó, nam giới hướng ngoại còn phụ nữ hướng nội.Parsons giải thích thêm rằng, cả nam giới và nữ giới đều học cách nhận diện giới tính sao cho thích hợp, cũng như kĩ năng và thái độ cần thiết để thực hiện vai trò giới.