NGUYÊN PHƯƠNG THẢO +-- ri phác tháo NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC ¬ NGUYÊN PHƯƠNG THẢO VĂN HÓA DÂN GIAN NAM BỘ NHỮNG PHÁC THẢO (Tập Hiếu luận. in lần # có sửa chữa bổ sung) NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC, HÀ NỘI 1997 Lời thưa trước ừ lâu, nói đến Nam Bộ, trái từm mỗi người dân Việt Nam lại ngân lên những Hếng yêu thương, tự hào. Bởi, đó là uùng đất đặc biệt uê nhiều phương diện của Tổ quốc. Trên giải đất luôn nhoài ra biển Đông trong ồn ñã sóng gió, lịch sử đi qua uới bao nỗi thăng trầm.
Là nơi đi trước uề sau, Nam Bộ, uới uị thế địa - uăn hóa, địa - chinh trị của mình trở thành nơi hội tụ nhiều nên uăn mình, đón nhận, giao lưu nhiêu nên uăn hóa, đến từ nhiêu chân trời khác nhau. Trải qua hơn ba chục thập kỷ khai phá xây dựng, tộc người Việt cũng như các tộc người anh em đã tạo dựng cho uùng đất hiột nên oăn hóa độm đò bản sắc dân tộc, giàu sắc thải phượng nam. - : Nhi thếềuhệ các nhà nghiên cứu uăn bóa dân gian đã tiếp cận nên uăn hóa dân gian Nam Bộ, uới nhiêu thái độ, động :oU uà phương pháp khếc nhau. Các công trình nghiên cứu của các thể hệ đi trước đã uẽ được chân xúc điện mạo uăn-hóa dân gian Nam Bộ.
Dầu oậy, cho tới hôi. nay, nghiên cứu uốn hóa uùng uẫn là công uiệc cần. thiết, không chỉ có ý nghĩa giới thiệu, giải mã uăn hóa dân. gian một uùng, mà còn có ý nghĩa bổ sung vdo uốn van hóa cả nước những uấn để cụ thé.
- Do duyên may của số phận, tôi đã gắn bó uới uùng đất này mười mấy năm tHờ. Tôm niệm rằng, nghiên cứu uăn hóa dân gian Nam Bộ là công uiệc cần thiết, kế thừa két qud nghiên cứu của các thế hệ trước, tôi đã bắt tay oào nghiên cứu một số uấn đề vụ thể của nên oăn hóa dân gian Nam Bộ. Dần dà, ở các tạp chí khoa học chuyên ngành, 5 các uấn đề trên đã được công bố. Tập tiểu luận VĂN HÓA DÂN GIAN NAM BỘ, NHỮNG PHÁC THẢO gồm 16 tiểu luận của tôi uê một số uấn đề của uăn hóa dân gian Nam Bộ, là sự lựa chọn các tiểu luận đã được công bố trong mấy năm gần đây.
Quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận được sự động uiên giúp đỡ của các nhà nghiên cứu như Giáo sự Định Gia Khánh, tiếu giáo sự Nguyen Tu Chi |. Giáo sự Tiến sĩ Tô Ngọc , PRO giao § ö Trên sĩ Ngô Đức Thịnh, Phó giáo sư, Phó tiến sĩ Hồ Sĩ Vịnh, Phó giáo sử, Phó tiến sĩ Kiêu Thu Hoạch, Phó giáo sự, Phó tiến sĩ Trần Lâm Biên, Phó giáo sư, Phó tiển sĩ Đặng Văn Lung, Phó giáo sư, Phó tiến sĩ Nguyễn Xuân Kính, ông Chu Thái Sơn, ông Thạch Phương, ông Hồ Tường, ông Huỳnh Ngọc Trủng, nhân cuốn sách này được ru mắt bạn đọc lần thứ hai, tôi xin tô lòng cảm ơn chung. Không mong ước gì hơn, tôi chỉ mong rằng, tập tiểu luận sẽ góp phần thêm uùào tiến trình nghiên cứu ušăn hóa đân gian Nam Bộ uốn đố đạt nhiêu thành tựu của giới nghiên cứu uăn hóa dân gian, một tHếng nói nhỏ, như sự trẻ một món nợ tinh thân uát uùng đất mà tôi rất đỗi yêu thương. Bởi uậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của đông đảo bạn đọc, sự chỉ bảo chân thành của các bậc trí giả hiểu biết uà yêu mến nên uăn hóa dân gian Nam Bộ, để những lần xuất bản sau, cuốn sách sẽ tôt hơn.
: Mùa thu năm Đình Sửu TÁC GIÁ LANG VIET NAM BO VA VAN HOA DAN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT -ƒ ảng Việt ở phía Bắc, với tư cách một đơn vị hành " hính, một cộng đồng dân cư, một đơn vị của xã hội Việt Nam cổ truyền đã được một số người tìm biểu. Nhưng làng Việt ở Nam Bộ lại chưa có được mấy ai chứ ý đúng mức, để tìm cho được những nét riêng của nó, nhằm so sánh đổi chiếu với làng Việt phía Bắc. Thành ra, khi lý giải những nót bản sắc của văn hóa dân gian Việt phía Nam, cũng như:khi nhìn vào nhiều phương diện khác có hên quan đến làng viet Nam Bộ, người ta chủ yếu nhận xót bằng cảm tính: chẳng hạn, tác vấn đề tôn giáo ở đây, vấn đề:đặc tính con người ð đây. Với bài này, chúng tối chỉ xin phác lên vài nết riêng của làng Việt Nam Độ, và tác động của nhữn nét riêng g Ấy lên vốn văn hóa dân gian changudiVidencidfy, 7 CÔ CC 1.
Vài nét riêng của làng Việt Nam Bộ ` a) Tuổi đời còn ngắn Thu bo Sa Tuổi đời của làng Việt trên đồng bằng sông Cửu Long lên nhiên là ít hơn nhiều so với tuổi đời làng Việt trên đẳng bằng sông Hồng. Làng nào tuổi đời cao lắm cũng chỉ mới hơn ba trăm. nắm (thời chúa Nguyễn Phúc Chu) là cùng ! Được tạo lập khi người Việt tới miền đất mới này để khai phá, trải qua tiến trình lịch sử làng Việt Nam Bộ có những nét riêng, do các đặc điểm thiên nhiên lịch sử, xã hội nơi này tạo ra. No b) Các đặc điểm định cư: từ giông xuống trũng Nhìn ở góc độ quan hệ với thiên nhiên, điều đập ngay vào mắt người quan sát là từng địa điểm định cư của người Việt Nam Bộ rất thích ứng với thiên nhiên: con người lựa chọn những nơi thích hợp để định cư, họ thích nghỉ với thiên nhiên đến là chặt chẽ.
Phải nhắc lại rằng trước khi người Việt tới đây, Nam Bộ còn là miền đất hoang vắng, hiểm trở. Cư dân Khơme mới khai phá một số nơi thôi. Sau những chuyến đi ngắn ngày, dài ngày, bằng ghe bầu, bằng thuyển buổm, người Việt, từ Ngũ Quảng (miền 'Trung) vào, đặt chân lên một miễn đất còn khá hoang vu. Việc đầu tiên của những lưu dân mới đến ấy là ra sức thích ứng với thiên nhiên côn hoang đã ở nơi sẽ là "đất tổ" của họ.
Buổi ban đầu, lưu. đân Việt chọn những con “gidng" © làm đất đứng chân, làm tụ điểm. Một lựa chọn thông minh! Khảo sát huyện Bình Đại ở tỉnh Bến Tre, chúng tôi thấy rõ những làng xưa nhất, như Llậc Thuận, Phú Vang, Vang Quới, đều nằm trên các con giống, còn các làng mới hơn, như Thới Lai, Định Trung, lại chiếm lĩnh các vùng đất, trũng. Giống ít nhất cũng thỏa mãn được hai điều kiện: vừa có nước ngọt, vừa cao ráo, khiến con người tránh được muỗi mòng, rắn rết.
Nó hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sống còn đầu tiên của người dân mới đến khai phá một vùng đất lạ. Tại những con giống làm đất dừng chân này, lưu dân Việt tréng:rau mau ngắn ngày, từ đó mới dần đà tiến xuống, đâm lây, đất trũng. ” Giéng: gd d&t cao va dai. 8 + Cũng về địa điểm định cư, người Việt, khi xuống đất trũng lập làng còn chịu ảnh hưởng của sông nước.
Ngoài loại làng ven biển của lưu dân làm nghề chài lưới, dọc hai bờ sông còn có loại làng lập gần nơi "giáp nước", nơi gặp. nhau giữa nước thủy triều chảy ngược và nước sông chảy xuôi. Thủy triểu đẩy nước vô các "kinh rạch", gặp dòng chảy của nước ‘ra biển: khi gặp nhau, di: “nude rong" hay “nitéc rong" ‘” ; nước đều không chảy nữa. Phù sa lắng đọng ở những nơi này, mà cư dân quen gợi là “lung lừa": Thuyền ghe ngược xuôi buôn bán thường nghỉ lại đây, chờ con nước.
Làng mạc mọc lên ở những nơi này, bởi thế: ở đâu là nơi giáp nước, ở đó trên bờ là thị trấn, thị tứ, chợ búa, tiệm ăn,. : c) Hinh thức quần cư: làng kéo dài trên diện rộng Vẫn trong những mối quan hệ với thiên nhiên, hình thức quần cư của làng Việt trên đồng bằng sông Cửu Long cũng khác với trên đồng bằng sông Hồäg. Hình thức này ở Bắc Bộ đã được P.Gourou) miêu tả qua tác phẩm Néng dan ving chau thé Bac Ky ™ .có ba loại làng cả tháy: làng trên dải đất cao ven sông: làng ven đổi; làng duyên, hái. Vẫn theo,ông, hình thức quần cư ấy khiến cho mỗi làng là một quần thể khép kín, với lũy tre.bao bọc quanh làng, với tưởng hay rào bạo quanh từng nhà.
Hình thức ấy, ta không gặp lại khi nhìn vào làng trên đồng bằng sông Cửu: Long.Ở đây, có ba hình thức quần cư chính: tập trung; tửơng đối rải rác; hoàn toàn phân tán trên diện rộng. Phân tán trên diện rộng là dạng phổ biến () Nưệc ròng: nước cạn; Ngức ong: nước lớn, co ® Dặn từ Trần Từ - Cơ cấu sổ chức của làng Việt cổ truyền ¿ Bắc Bó, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984. 9 hơn cả, trong đó chủ yếu là quần cư (heo tuyến hay toa tia. Nói một cách khác, làng mạc được phân bố theo dạng kéo dài, lấy "kinh mương" hay "lô" giao thông làm trục.
Dân cư ở hai bên "kink rach" hay con lộ, mặt nhà đều quay ra lộ hay kinh mương. Khảo sát các làng của huyện Bình Đại và huyện Ba Tri (tỉnh Bến Tre), tôi đều thấy hiện tượng này. Nhìn từ trên cao, làng mạc cứ như những tia đài. Chính vì luôn kéo dài như thế, nên làng không có lũy tre bao quanh, không thành một quần thể riêng biệt, không cách bức với các làng khác như đồng bằng sông Hồng.
Hình thức quần cư ấy phải chăng là sự thích ứng hữu hiệu với môi trường chẳng chịt kinh rạch ? Ít nhất thì đấy cũng làý kiến của phái đoàn chuyên gia thủy lợi và kinh tế Hà Lan từng khảo sát miền Nam Bộ cho chính quyền cũ trước 1975. Nét riêng này của làng Việt Nam Bộ, cùng với một hệ thống kinh rạch chằng chịt, có khả năng tạo cho văn hóa dân gian của người Việt ở đây nhiều nét khác biệt, so với Bắc Bộ. dì Làng khai phá Nhìn đưới góc độ lịch sit, lang Việt Nam. Bộ là ‘ang khai phá.
Nét riêng của làng Việt Nam Bộ khiến nó khác hẳn làng Việt trên đồng bằng sông Hồng. Nếu như làng Việt Bắc Bộ xuất hiện từ sự tan rã dẫn của công xã nông thôn, thì làng Việt trên đồng bằng sông Cửu Long ra đời từ nhu cầu cấp tốc khai phá đất mới, từ thế kỷ XVII đến thé ky XIX.dân cư từ nhiều nguồn tập hợp lại mà lập nên trong quá trình khai phá, có làng vốn là đồn điển của các chúa Nguyễn, của nhà Nguyễn. Chẳng hạn, làng Thạnh Phước thuộc huyện Bình Đại (tỉnh Bến Tre) la nơi vốn có một đồn canh của nhà Nguyễn, nên không có gì lạ, nếu có bắt gốc từ một đổn điển mà thành.