Chương 1, Giải thích từ ngữ nêu rõ: “Làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (goi tắt là làng nghé) là làng (thôn, khu dân cư) có ngành nghề sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển ở các hộ gia đình trở thành nguồn thu nhập cao của người dân trong làng". Phân loại làng nghề Làng nghề xuất hiện từ rất lâu đời (tr thời nhà Lê, nhà Ly). Các sản phâm của làng nghề phục vụ cho đời sống hàng ngày, đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống văn hóa. Trên cơ sở tiếp cận van đề môi trường, phân loại làng nghề theo các kiểu dang sau là phù hợp hơn cả.
- Theo lich sử hình thành và phát triển các làng nghề, có: Làng nghề truyền thống: Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: "Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thong được hình thành từ lâu đời". Làng nghề mới: Là làng có ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng nghề truyền thống hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vung và gitra các nước. Ngay các làng nghề truyền thống cũng có sự dan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống. - Phân loại theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm Để có căn cứ cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề, chúng ta cần xem xét một số khía cạnh như: Điều kiện lao động, những tác động, sự phát triển các làng nghề song song với thay đôi nguyên vật liệu và chất thải đầu ra dẫn đến sự vượt quá sức tải dùng cho việc phân huỷ chất thải.
Theo cách phân loại này ta có làng nghề ô nhiễm nặng, làng nghề ô nhiễm trung bình và làng nghé ô nhiễm nhẹ.1: Sơ đồ đánh giá mức độ ô nhiễm tại các làng nghề ° ra Các số liệu đặc Có chất thải nguy Có trưng môi hại vượt quá quy trường trong dòng thải của định lana noha Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề cao hơn 5 lần TCCP Có ít nhất một thông số môi trường đặc Ô nhiễm trung trưng cho làng nghề bình từ 2 đến 5 lần TCCP Có ít nhất một thông số môi trường đặc trưng cho làng nghề Ô nhiễm nhẹ nhỏ hơn 2 lần TCCP Làng nghề không gây ô nhiễm - Phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm Dựa trên các yếu tô tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, nguyên vật liệu có thé chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm làng nghề chính: + Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mô: Phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình 10 thành nghề. + Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: Nhiều làng có từ lâu đời, các sản phẩm mang tính lịch sử, văn hoá, mang đậm nét địa phương. Quy trình sản xuất không thay đôi nhiều, với nhiều lao động có tay nghề cao. + Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: Hình thành từ hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản cho hoạt động xây dựng.
Lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công nghệ thô sơ, tỷ lệ cơ khí hoá thấp, ít thay đổi. + Làng nghề tái chế phế liệu: Chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế. Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng được xếp vào loại hình làng nghề này. + Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Bao gồm các làng nghề gốm, sành sứ, thuỷ tỉnh mỹ nghệ; chạm khắc đá, chạm mạ bạc vàng; sản xuất mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu, thêu ren.
Quy trình sản xuất gần như không thay đồi, lao động thủ công, nhưng đòi hỏi tay nghề cao, chuyên môn hoá, tỉ mi và sáng tạo. + Các nhóm ngành khác: Bao gồm các làng nghé chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, dan vó, đan lưới, làm lưỡi câu. Lao động phan lớn là thủ công với số lượng và chất lượng ôn định.2: Sơ đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất | Thu công mỹ nghệ l Tái chế phế liệu Chế biến lương thực, thực phâm, chăn nuôi, giêt mô Dệt nhuộm, thuộc da I Các nghề khác 20% 4 E Vật liệu xây dựng, khai thác đá II 1. Các tiêu chí công nhận làng nghề Làng nghề được công nhận (theo Thông tr 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phải đạt 03 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh 6n định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Cụ thê hoá Thông tư của Bộ Nông nghiệp và PTNT, UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quy định dé công nhận làng nghề gồm: (1) Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; các quy định của chính quyền địa phương, có hình thức tổ chức phù hợp; phat triển ngành nghề gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng làng văn hóa của địa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường. (2) Số hộ gia đình hoặc lao động làm nghề CN - TTCN ở làng đạt từ 25% trở lên so với tổng số hộ hoặc lao động của làng; (3) Doanh thu từ sản xuất CN - TTCNở làng chiếm tỷ trọng từ 30% trở lên so với tông doanh thu của làng trong năm; (4) Thu nhập bình quân năm của một lao động ở làng nghề sản xuất CN - TTCN phải cao hon thu nhập bình quân của lao động trong xã từ 10% trở lên; (5) Hoạt động sản xuất kinh doanh phải đảm bảo vệ sinh môi trường chung, nhất là về hệ thông thoát nước, hệ thống xử lý rác thải và nước thải. Các tiêu chuẩn trên của làng đạt ôn định từ 3 năm trở lên sẽ được Ủy ban nhân dân tinh xem xét công nhận làng nghề. Vai trò của làng nghề.
- Làng nghệ TTCN là cơ sở xuất phát quan trọng dau tiên trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nên kinh tế Các làng nghé tiêu thủ công nghiệp phát trién sẽ thúc đây phân công lao động xã hội ở nông thôn theo hướng CNH, HDH; thu hút lao động dôi du từ nông nghiệp. 12 Day là yếu tố, điều kiện quan trọng dé CNH, HĐH của toàn bộ nền kinh tế. Trong tình trạng nền kinh tế phát triển thấp, các làng nghề TTCN sử dụng nguồn tài nguyên, lao động dồi dào ở nông thôn, khai thác nguồn vốn tự có trong dân, mở rộng sản xuất ở những ngành, nghề, khu vực chưa hoặc không thể cơ khí hoá được. Nhờ vậy, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động và tích luỹ vốn cho CNH, HĐH.
Sự phát triển của làng nghề TTCN ở nông thôn góp phan tạo những yếu tố ban đầu, hình thành đội ngũ những người thợ, nhà quan lý. tạo đà cho CNH, HDH tại địa bàn nông thôn. Bên cạnh đó, người thợ sẽ áp dụng mạnh mẽ các tiễn bộ khoa học, công nghệ vào việc cải tạo nghề truyền thống. Xây dựng một nền thủ công hiện đại năng động, có khả năng cung ứng sản phâm mỹ nghệ cho những nhu cầu thị hiểu mới, kế cả xuất khâu.
Việc xuất khâu những sản phẩm thủ công mỹ nghệ, sẽ phát huy lợi thế so sánh nước ta với các nước nhập khâu, truyền bá văn hoá truyền thống, góp phần quảng bá du lịch; thúc đây tăng trưởng và phát triển kinh tế. - Phát triển làng nghề TTCN là sự bảo tôn và phát triển công nghiệp cô truyền trong qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thực tế hiện nay, các ngành nghề TTCN truyền thống sẽ diễn ra ba chiều hướng: một số nghề cổ truyền bị triệt tiêu dần và biến mat; một số nghề khác tiếp tục tỐn tai, phát triển thích ứng với hoàn cảnh mới; và sẽ có một sỐ nghề mới hình thành. Các làng nghề TTCN tiếp tục tồn tại và duy trì mối quan hệ mật thiết với sản xuất công nghiệp theo quy mô lớn theo ba hướng: Một là, các làng nghề sẽ hoạt động dựa trên việc sử dụng nguyên liệu, các dụng cụ và trang thiết bi từ các nhà máy công nghiệp lớn dé tổ chức sản xuất. Thể hiện sự phân tang trong sản xuất công nghiệp.
Hai là, các làng nghề TTCN cung ứng các công cụ sản xuất, hoàn tất sản phẩm công nghiệp, làm dịch vụ cho công nghiệp tại các nhà máy lớn, vai trò như nhà thầu phụ trong sản xuất công nghiệp. Ba là, các làng nghề TTCN hoạt động song song với nhà máy công nghiệp lớn. Các nhà máy chỉ xử lý nguyên liệu đến một khâu nhất định, sau đó chuyển 13 phần gia công cho ngành nghề thủ công tại các làng nghề; hoặc nhà máy thoả mãn nhu cầu hàng loạt, còn thợ thủ công sẽ đáp ứng cho nhu cầu riêng biệt cho từng công đoạn tạo sản phẩm. Đây là xu thế cần định hướng phát triển trong tương lai, chính là sự phân công lao động xã hội chuyên môn hóa cao, TTCN trở thành công nghiệp phụ trợ, vệ tinh cho công nghiệp hiện dai.
Do vậy, làng nghề TTCN tổn tại và phát triển là một tất yếu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thông quá quá trình tồn tại và hoạt động góp phần lưu giữ, bảo tồn công nghệ truyền thống của Việt Nam trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực. - Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới + Tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn: Việc phát triển ngành nghề, làng nghé là hướng chủ yếu dé tạo việc làm cho lao động nông thôn. Với số lao động chưa đủ việc làm trong thời gian nông nhàn (còn đến 35% thời gian lao động của nông dân), số lao động không còn việc làm khi ruộng đất đã chuyên đổi mục đích sử dụng (phát triển công nghiệp và đô thi),.
sức ép về việc làm cho lao động ở nông thôn là rất lớn.