Tổng quan luận án

Phát triển du lịch là một định hướng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, gia tăng thu nhập cho doanh nghiệp và người dân, cũng như đóng góp nguồn thu ngân sách tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch khi chưa gắn liền với các định hướng và kế hoạch cụ thể có thể dẫn đến nhiều bất cập, như làm suy thoái tài nguyên, phá vỡ cảnh quan tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường và tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa bản địa. Vì vậy, phát triển du lịch theo hướng bền vững trở thành yêu cầu cấp thiết được các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu quan tâm.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm thành phố Đà Nẵng và 7 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Vùng có bờ biển dài hơn 1.200 km cùng hệ thống bãi biển chất lượng cao như Mỹ Khê (Đà Nẵng), Tam Thanh, Cẩm An (Quảng Nam), Mỹ Khê, Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Tuy Hòa (Phú Yên), Quy Nhơn (Bình Định), Bắc Cam Ranh (Khánh Hòa), Ninh Chữ (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình Thuận), kết hợp với các giá trị văn hóa cư dân miền biển đặc trưng (lễ hội Cầu ngư, lễ hội Cá Ông, hát Bài chòi, hát Bả Trạo). Mặc dù có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khoảng 10%/năm và tiềm năng tài nguyên phong phú, du lịch toàn vùng phát triển chưa tương xứng, thiếu tầm nhìn tổng thể, liên kết giữa các địa phương còn mang tính đơn lẻ, hạ tầng chưa đồng bộ, tài nguyên bị khai thác chưa hợp lý và chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế. Thêm vào đó, tác động của đại dịch COVID-19 từ cuối năm 2019 đã làm suy giảm nghiêm trọng lượng khách và doanh thu du lịch.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm: các công trình trước đây chưa đạt được sự thống nhất hoàn toàn về khái niệm, nội dung, tiêu chí và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch theo hướng bền vững; hiện trạng phát triển du lịch trên cả ba trụ cột kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường và mối quan hệ liên kết vùng tại Duyên hải Nam Trung Bộ chưa được đánh giá đầy đủ; đồng thời chưa có luận án tiến sĩ kinh tế phát triển nào đánh giá toàn diện tính bền vững du lịch tại vùng nghiên cứu này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở khung lý thuyết về phát triển du lịch theo hướng bền vững, luận án đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch trên địa bàn Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch của Vùng theo hướng bền vững.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cùng kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch theo hướng bền vững.
    2. Đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch trên địa bàn Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững.
    3. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy phát triển du lịch trên địa bàn Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững trong giai đoạn tới.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Để đánh giá mức độ phát triển du lịch bền vững của các tỉnh Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, cần đánh giá bền vững trên những khía cạnh nào và các tiêu chí, trọng số để đánh giá như thế nào là phù hợp?
  2. Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển du lịch của các tỉnh Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố?
  3. Những giải pháp nào là phù hợp để phát triển du lịch của các tỉnh Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về du lịch, phát triển du lịch theo hướng bền vững, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng bền vững.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào cơ sở lý luận, thực trạng phát triển du lịch của các tỉnh Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng bền vững trên các trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường và liên kết, cùng hệ thống giải pháp thúc đẩy.
  • Phạm vi không gian: 08 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp phản ánh thực trạng phát triển du lịch giai đoạn 2015 - 2020; số liệu điều tra trực tiếp thực hiện trong năm 2019 (thời gian triển khai khảo sát từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2019); các định hướng và giải pháp được đề xuất cho giai đoạn 2023 - 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu được tác giả phân định thành bốn nhóm chủ đề chính:

Thứ nhất, các nghiên cứu về quan điểm phát triển du lịch theo hướng bền vững: Sheng-Hshiung Tsaur và cộng sự (2014) nhấn mạnh du lịch bền vững đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của điểm đến, duy trì tính toàn vẹn văn hóa, quy trình sinh thái và đa dạng sinh học. Hall và Testoni (2004), Sudhir và Amartya (1996) xác định ba khía cạnh cốt lõi: tăng trưởng kinh tế ổn định, tiến bộ - công bằng xã hội, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Về môi trường, Seifi và Ghobadi (2017), Mrkša và Gajić (2014), Maldonado và cộng sự (1992) xem xét sức chịu tải của hệ sinh thái và vai trò của các khu bảo tồn. Về khía cạnh xã hội, Stonich và cộng sự (1995), Clark (1990), De Kadt (1979), Plog (1972), Smith (1989), Khương và Nguyên (2015) phân tích sự tạo việc làm và hiệu ứng lan tỏa nâng cao mức sống. Về kinh tế, Mowforth và Munt (2015), Mai và Phạm (2017), Zhenhua Liu (2003), Nguyễn Quang Thái và Ngô Thắng Lợi (2007) khẳng định nguồn thu ổn định từ du lịch là động lực phát triển kinh tế. Tại Việt Nam, Phạm Trung Lương (2002) và Phạm Quế Ánh (2017) đã tiếp cận thực trạng phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với hội nhập quốc tế và bảo vệ môi trường sinh thái.

Thứ hai, các nghiên cứu về chỉ số và tiêu chí đo lường phát triển du lịch bền vững: Anna và cộng sự (2017) thiết lập chỉ số tổng hợp ISOST cho các đô thị tại Catalonia (Tây Ban Nha). Fernández và Rivero (2009) phát triển chỉ số tổng hợp toàn cầu (ST) để phản ánh tính đa chiều của du lịch môi trường. Lucian và Julien (2007), Hwan-Suk và cộng sự (2005) cũng xây dựng các bộ chỉ số đo lường. Trong nước, Vũ Văn Đông (2014) đề xuất bộ tiêu chí gồm 7 nhóm đóng góp; Lê Chí Công (2015), Le Chi Cong & Ta Thi Van Chi (2020), Nguyễn Thanh Tưởng (2016) nghiên cứu bộ chỉ số đánh giá du lịch biển trên 4 khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế tại Duyên hải Nam Trung Bộ.

Thứ ba, các nghiên cứu về liên kết trong phát triển du lịch bền vững: Chương trình nghị sự 21 về du lịch của UNWTO, WTTC và Hội đồng Trái đất nhấn mạnh sự phối hợp giữa các chính phủ về môi trường. Dwyer và cộng sự (2011) dùng mô hình phân tích cung - cầu; Mahdavi và cộng sự (2013) liên kết du lịch nông thôn với sinh thái; Hilal và cộng sự (2010) phân tích liên kết doanh nghiệp du lịch nhằm giải quyết các thách thức môi trường.

Thứ tư, các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững: Vuong Khanh Tuan và cộng sự (2019) nghiên cứu định tính các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường tại Việt Nam; Natalia Restrepo (2019) chứng minh vai trò quyết định của thể chế tại Colombia; Tsung (2013) chỉ rõ sự gắn kết của cộng đồng dân cư. Nhóm tác giả quốc tế như Chen và Chen (2011), Ruhanen (2012), Muhammet và cộng sự (2010), Seldjan và Donald (2009), Hollier và Lanquar (2008), Maia và cộng sự (2005) tổng hợp các yếu tố về thể chế, hạ tầng, tài nguyên và doanh nghiệp. Trong nước, các nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường (2015), Nguyễn Đức Tuy (2014), Trần Hải Sơn (2011), Đinh Kiệm (2013), Nguyễn Văn Đức (2013), Đặng Thị Thúy Duyên (2019) chỉ ra các nhân tố về quy hoạch, bộ máy quản lý, chất lượng nhân lực, bảo tồn di tích văn hóa và ô nhiễm môi trường.

Nhóm nghiên cứu Tác giả tiêu biểu Trọng tâm nội dung
Quan điểm phát triển du lịch bền vững Tsaur và cs (2014); Hall & Testoni (2004); Phạm Trung Lương (2002); Phạm Quế Ánh (2017) Ba trụ cột kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường; sức chịu tải sinh thái và hiệu ứng kinh tế.
Tiêu chí và chỉ số đo lường Anna và cs (2017); Fernández & Rivero (2009); Vũ Văn Đông (2014); Lê Chí Công (2015) Các chỉ số tổng hợp (ISOST, ST); đánh giá định lượng tính bền vững điểm đến.
Hoạt động liên kết vùng UNWTO, WTTC (2004); Dwyer và cs (2011); Mahdavi và cs (2013); Hilal và cs (2010) Hợp tác công - tư, liên kết cung - cầu, mạng lưới liên kết địa phương và chuỗi giá trị du lịch.
Nhân tố ảnh hưởng Vuong Khanh Tuan và cs (2019); Natalia Restrepo (2019); Nguyễn Mạnh Cường (2015); Nguyễn Đức Tuy (2014) Thể chế, chính sách, hạ tầng, tài nguyên, chất lượng lao động, vai trò cộng đồng dân cư.

Khoảng trống luận án giải quyết:

  1. Khắc phục sự thiếu thống nhất trong các nghiên cứu trước bằng cách tích hợp và chuẩn hóa hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững phù hợp với cấp độ địa phương và vùng.
  2. Đánh giá hiện trạng du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ một cách đồng thời trên cả ba trụ cột kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường và trụ cột liên kết vùng.
  3. Giải quyết bài toán nghiên cứu ở cấp độ tiến sĩ kinh tế phát triển về tính bền vững du lịch trên địa bàn đặc thù gồm 8 tỉnh, thành phố duyên hải Nam Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng các khái niệm nền tảng từ Luật Du lịch (2017), Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), UNWTO (2008, 2016) và WTTC (2016). Theo luận án, phát triển du lịch theo hướng bền vững là sự phát triển dựa trên việc khai thác hợp lý, hiệu quả tài nguyên và các nguồn lực, bảo đảm đồng thời ba mục tiêu bền vững về kinh tế, bền vững về văn hóa - xã hội, và bền vững về môi trường của địa phương, vùng và quốc gia. Bên cạnh ba trụ cột truyền thống, luận án bổ sung khía cạnh liên kết vùng thành một nội dung quan trọng nhằm khai thác hiệu ứng quy mô và chuỗi giá trị.

Khung phân tích của luận án kết hợp 3 cách tiếp cận: tiếp cận theo mục tiêu phát triển bền vững; tiếp cận theo cơ chế thị trường và kinh tế học vi mô; tiếp cận "mở" trong mối quan hệ liên kết nội vùng và liên vùng. Luận án xây dựng quy trình nghiên cứu logic: đánh giá hiện trạng phát triển du lịch $\rightarrow$ đánh giá mức độ bền vững bằng mô hình $\rightarrow$ phân tích các nhân tố ảnh hưởng $\rightarrow$ chỉ ra tồn tại, hạn chế $\rightarrow$ đề xuất hệ thống giải pháp và điều kiện thực hiện.

Phương pháp thu thập dữ liệu:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản chính sách, nghị quyết của Đảng, quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 2350/QĐ-TTg ngày 24/12/2014); báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê; báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của 8 tỉnh, thành phố duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2015 - 2020.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phiếu khảo sát được xây dựng qua 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Dự thảo phiếu khảo sát nháp dựa trên tổng quan lý thuyết và thực tiễn vùng.
    • Giai đoạn 2: Tham vấn chuyên sâu 20 chuyên gia (giảng viên đại học, nhà nghiên cứu) để hoàn thiện biến quan sát và thang đo.
    • Giai đoạn 3: Tổ chức tọa đàm khoa học để ghi nhận góp ý và ban hành phiếu khảo sát chính thức.

Thời gian điều tra thực địa được thực hiện từ tháng 06/2018 đến tháng 12/2019. Tổng quy mô mẫu điều tra gồm 400 phiếu, phân bố đều tại 8 tỉnh, thành phố của Vùng:

TT Đối tượng điều tra Quy mô mẫu trên mỗi tỉnh (phiếu) Tổng số mẫu toàn vùng (phiếu)
1 Nhà quản lý du lịch 10 80
2 Doanh nghiệp du lịch 10 80
3 Khách du lịch 30 240
Tổng cộng 50 400

Phương pháp phân tích dữ liệu:

  1. Thống kê mô tả và so sánh trung bình: Tính toán các chỉ tiêu số học, tỷ trọng, doanh thu, lượt khách, lao động nhằm phản ánh thực trạng phát triển du lịch.
  2. Phương pháp phân tích thứ bậc (AHP - Analytic Hierarchy Process): Thiết lập cây phân cấp AHP, ma trận so sánh cặp để tính toán trọng số của các tiêu chí đánh giá tính bền vững dựa trên ý kiến chuyên gia.
  3. Phương pháp phân tích định lượng: Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) với kiểm định KMO và Bartlett's Test để kiểm tra giá trị hội tụ và phân biệt, sau đó ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố đến tính bền vững du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án

Chương này điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến phát triển du lịch bền vững theo 4 hướng tiếp cận chính: quan điểm lý luận, hệ thống chỉ số đo lường, hoạt động liên kết vùng và các nhân tố ảnh hưởng. Tác giả tổng hợp các bảng chỉ tiêu đo lường từ các học giả quốc tế (Anna và cộng sự, 2017; Fernández và Rivero, 2009; Lucian và Julien, 2007) và trong nước (Vũ Văn Đông, 2014; Lê Chí Công, 2015). Trên cơ sở xác định 3 khoảng trống nghiên cứu, chương 1 xác lập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu tại 8 địa phương Duyên hải Nam Trung Bộ, thiết lập 3 câu hỏi nghiên cứu, trình bày khung phân tích phát triển du lịch theo hướng bền vững (Hình 1.1) và thiết kế quy trình điều tra chọn mẫu 400 đối tượng.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển du lịch theo hướng bền vững

Chương 2 làm rõ các khái niệm về du lịch, phát triển du lịch và phát triển du lịch theo hướng bền vững; phân tích 7 vai trò quan trọng: xuất khẩu tại chỗ, xóa đói giảm nghèo, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế (trích dẫn số liệu WTTC 2016: du lịch đóng góp trực tiếp 2,3 nghìn tỷ USD, tạo 109 triệu việc làm trên toàn cầu), huy động nguồn lực đầu tư, truyền thông giao lưu văn hóa, bảo vệ môi trường và thúc đẩy hội nhập quốc tế. Chương này xác định cấu trúc nội dung đánh giá tính bền vững trên 4 mặt: kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường và liên kết. Đồng thời, tác giả hệ thống hóa các nhân tố tác động: thể chế - chính sách, cơ sở hạ tầng, tài nguyên, nhân lực, sự đa dạng sản phẩm/dịch vụ, dịch vụ hỗ trợ, hoạt động liên kết, xúc tiến quảng bá, sự hài lòng của du khách, cộng đồng dân cư và các yếu tố ngoại cảnh (thiên tai, biến đổi khí hậu, công nghệ 4.0). Phần kinh nghiệm thực tiễn đúc kết bài học từ Tây Ban Nha (quản lý vùng bờ, kiểm soát xây dựng trong phạm vi 500m theo Luật Bờ biển 1988, cấp phép hoạt động tại khu bảo tồn biển) và Thái Lan (chính sách hàng không giá rẻ, chiến lược marketing với ngân sách 80 - 150 triệu USD/năm, trích nộp 1 USD/khách vào quỹ quảng bá).

Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn Vùng Duyên hải Nam Trung bộ theo hướng bền vững

Chương 3 trình bày các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch của 8 tỉnh, thành phố trong vùng. Tác giả phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015 - 2020 về hiện trạng cơ sở lưu trú, dự án đầu tư, cơ cấu khách du lịch, doanh thu và lao động ngành du lịch. Dựa trên cây phân cấp AHP và điều tra khảo sát, luận án tính toán mức độ bền vững theo từng trụ cột cho 8 địa phương. Kết quả kiểm định thang đo các biến độc lập bằng Cronbach's Alpha, kiểm định KMO và Bartlett's Test, cùng phân tích hồi quy đã xác định mức độ tác động của 10 nhân tố ảnh hưởng. Đánh giá tổng quát cho thấy du lịch vùng có sự tăng trưởng về lượng khách và hạ tầng nhưng bộc lộ nhiều hạn chế: phát triển thiếu quy hoạch thống nhất, liên kết vùng lỏng lẻo, quảng bá đơn lẻ, hạ tầng chưa đồng bộ, chất lượng nhân lực còn thấp và chịu tác động tiêu cực từ dịch COVID-19.

Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn Vùng Duyên hải Nam Trung bộ theo hướng bền vững

Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển du lịch mới, xác định quan điểm và định hướng phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2030 (du lịch biển - đảo là mũi nhọn, du lịch văn hóa làm nền tảng, gắn với bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng - an ninh). Luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2023 - 2030:

  1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển du lịch.
  2. Phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.
  3. Chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch.
  4. Phát triển và đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
  5. Tăng cường hoạt động liên kết, hợp tác phát triển du lịch.
  6. Tăng cường quảng bá và xúc tiến du lịch. Cuối cùng, chương 4 chỉ rõ các điều kiện thực thi giải pháp đối với các cơ quan Trung ương (ban hành cơ chế phối hợp vùng, hỗ trợ hạ tầng liên vùng) và chính quyền các tỉnh trong Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận:

  • Luận án góp phần hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận chung về phát triển du lịch và phát triển du lịch theo hướng bền vững ở quy mô cấp vùng.
  • Xác định và kiểm chứng hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ bền vững du lịch cấp địa phương/vùng dựa trên ba trụ cột chính (kinh tế, môi trường, văn hóa - xã hội) và gắn kết với trụ cột liên kết vùng.

Những đóng góp mới về thực tiễn:

  • Luận án đã lượng hóa và xếp hạng mức độ bền vững phát triển du lịch của 8 tỉnh, thành phố thuộc Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trên từng trụ cột riêng biệt:
    • Mức độ bền vững về kinh tế: Xếp hạng từ cao xuống thấp lần lượt là: Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Nam, Bình Thuận, Phú Yên, Ninh Thuận và Quảng Ngãi.
    • Mức độ bền vững về văn hóa - xã hội: Xếp hạng từ cao xuống thấp lần lượt là: Quảng Nam, Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên và Quảng Ngãi.
    • Mức độ bền vững về môi trường: Xếp hạng từ cao xuống thấp lần lượt là: Quảng Nam, Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú Yên, Quảng Ngãi và Bình Thuận.
Thứ tự Bền vững về Kinh tế Bền vững về Văn hóa - Xã hội Bền vững về Môi trường
1 Đà Nẵng Quảng Nam Quảng Nam
2 Khánh Hòa Bình Định Bình Định
3 Bình Định Đà Nẵng Đà Nẵng
4 Quảng Nam Khánh Hòa Khánh Hòa
5 Bình Thuận Ninh Thuận Ninh Thuận
6 Phú Yên Bình Thuận Phú Yên
7 Ninh Thuận Phú Yên Quảng Ngãi
8 Quảng Ngãi Quảng Ngãi Bình Thuận
  • Luận án xác định được mô hình và thứ tự mức độ ảnh hưởng của 10 nhân tố đến phát triển du lịch bền vững tại Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo thứ tự tác động giảm dần:

    1. Thể chế và chính sách phát triển du lịch (nhân tố có tác động mạnh nhất).
    2. Tài nguyên du lịch.
    3. Cơ sở hạ tầng du lịch.
    4. Cộng đồng dân cư địa phương.
    5. Các dịch vụ hỗ trợ liên quan.
    6. Quảng bá và xúc tiến du lịch.
    7. Nguồn nhân lực du lịch.
    8. Sự đa dạng của các dịch vụ phục vụ du lịch.
    9. Hoạt động liên kết, hợp tác phát triển du lịch.
    10. Sự hài lòng của khách du lịch.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2023 - 2030 tập trung vào chính sách, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch biển đảo - văn hóa, xúc tiến liên vùng, cùng các điều kiện phân định trách nhiệm rõ ràng giữa Trung ương và chính quyền 8 tỉnh trong vùng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu điều tra xã hội học sơ cấp phục vụ mô hình định lượng được thu thập tập trung vào năm 2019 với dung lượng mẫu 400 phiếu (mỗi tỉnh 50 phiếu). Các biến động lớn đối với ngành du lịch toàn cầu và du lịch Việt Nam do đại dịch COVID-19 trong năm 2020 và quý I/2021 chưa thể được phản ánh đầy đủ trong dữ liệu sơ cấp của mô hình. Ngoài ra, việc chuẩn hóa chỉ số đo lường tính bền vững vốn mang tính đa chiều, phức tạp và mang tính tương đối giữa các địa phương có sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển kinh tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu điều tra tại các điểm đến du lịch trọng điểm; cập nhật chuỗi số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sau giai đoạn phục hồi dịch bệnh COVID-19; nghiên cứu sâu hơn về tác động của biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng và việc ứng dụng công nghệ số (du lịch thông minh trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0) đối với sự phát triển bền vững của du lịch Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Ban điều phối liên kết vùng, Ủy ban nhân dân và Sở Du lịch/Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch của 8 tỉnh, thành phố Duyên hải Nam Trung Bộ. Luận án cung cấp căn cứ để ban hành chính sách điều hành, phân bổ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch liên vùng và xây dựng các chương trình xúc tiến du lịch chung.
  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị du lịch và Kinh tế vùng về khung phân tích tính bền vững du lịch, kỹ thuật ứng dụng phương pháp AHP kết hợp mô hình hồi quy nhân tố.
  • Hiệp hội du lịch và doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Cung cấp bức tranh thực trạng về cung - cầu, xếp hạng tính bền vững của từng tỉnh, gợi ý việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch biển và tăng cường liên kết chuỗi dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Vùng nghiên cứu của luận án bao gồm các tỉnh, thành phố cụ thể nào? Vùng nghiên cứu theo luận án được giới hạn tại Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ theo Quyết định số 2350/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, gồm 8 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh Bình Định, tỉnh Phú Yên, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Bình Thuận.

2. Mẫu khảo sát dữ liệu sơ cấp được thu thập từ những nhóm đối tượng nào và số lượng bao nhiêu? Tác giả đã tiến hành điều tra 400 phiếu khảo sát hợp lệ tại 8 địa phương trong vùng, bao gồm: 80 nhà quản lý du lịch (10 phiếu/tỉnh), 80 doanh nghiệp du lịch (10 phiếu/tỉnh) và 240 khách du lịch (30 phiếu/tỉnh). Khách du lịch được chọn khảo sát với số lượng lớn nhất nhằm đảm bảo tính khách quan từ phía cầu tiêu dùng dịch vụ.

3. Nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến phát triển du lịch bền vững tại Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ? Theo kết quả mô hình phân tích hồi quy của luận án, nhân tố Thể chế và chính sách có tác động mạnh nhất tới phát triển du lịch bền vững tại Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, tiếp đến lần lượt là Tài nguyên du lịch, Cơ sở hạ tầng, Cộng đồng dân cư địa phương, Dịch vụ hỗ trợ liên quan, Quảng bá xúc tiến, Nguồn nhân lực, Sự đa dạng dịch vụ, Hoạt động liên kết và cuối cùng là Sự hài lòng của du khách.

4. Địa phương nào có mức độ bền vững du lịch đạt thứ hạng cao nhất trên từng trụ cột? Theo kết quả đánh giá mô hình của luận án: thành phố Đà Nẵng đạt mức độ bền vững cao nhất về trụ cột Kinh tế; trong khi đó, tỉnh Quảng Nam đạt mức độ bền vững cao nhất ở cả hai trụ cột Văn hóa - xã hội và Môi trường trong toàn Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

5. Luận án đã rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế nào từ Tây Ban Nha và Thái Lan? Từ Tây Ban Nha, luận án đúc kết bài học về việc kiểm soát xây dựng ven biển nghiêm ngặt trong phạm vi 500m theo Luật Bờ biển 1988 và quản lý chặt chẽ giấy phép thể thao/du lịch dưới nước tại các khu bảo tồn biển. Từ Thái Lan, luận án rút ra kinh nghiệm kết hợp chính sách hàng không giá rẻ để kích cầu và trích nộp 1 USD/khách để tạo nguồn ngân sách marketing, xúc tiến du lịch chuyên nghiệp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Công Đệ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển du lịch theo hướng bền vững dưới giác độ kinh tế phát triển và vận dụng vào thực tiễn Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ giai đoạn 2015 - 2020. Bằng việc kết hợp phương pháp AHP và phân tích định lượng dựa trên mẫu khảo sát 400 đối tượng, luận án đã xếp hạng mức độ bền vững theo 3 trụ cột kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường của 8 địa phương và lượng hóa thứ tự tác động của 10 nhân tố ảnh hưởng, trong đó chính sách và tài nguyên giữ vai trò chủ chốt. Các nhóm giải pháp và điều kiện thực thi được luận án đề xuất là căn cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch, liên kết phát triển du lịch bền vững của vùng trong giai đoạn 2023 - 2030.