ĐẶT VẤN ĐỀ Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng nhất trong một tổ chức và là nguồn lực đầu vào có giá trị nhất của hệ thống y tế.Động lực làm việc của nhân lực y tế sẽ ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động của tổ chức cũng như của hệ thống y tế. Động lực làm việc hay động viên, khuyến khích nhân viên làm việc là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhân lực không những trong hệ thống y tế mà còn bất kỳ hệ thống nào[38]. Một cuộc điều tra gần đây do Jobsite, một trang web về lao động và việc làm của Anh, thực hiện, thì có đến 70% nhân viên nói rằng họ nhận được sự động viên của lãnh đạo ít hơn trước đây, 80% tin rằng, nếu họ muốn, họ có thể làm việc tốt hơn rất nhiều và 50% người lao động thừa nhận rằng họ chỉ làm việc vừa đủ để không bị sa thải [25]. Điều này có nghĩa là, khả năng của nhân viên chưa được phát huy đúng mức bởi họ không có động lực để làm việc.
Động lực làm việc không phải là một chủ đề mới, nhưng nó trở thành một chủ đề trung tâm được quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới[25]. Các nhà nghiên cứu trước đây cho rằng lương đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức, vì thế các nhà nghiên cứu xem lương là một chính sách tài chính mạnh nhất có thể kích thích động lực của nhân viên[21, 25]. Ngược lại, một số nghiên cứu gần đây cho thấy chính sách tài chính không phải là sự khích lệ tốt nhất để kích thích nhân viên[41]. Quá trình làm việc của nhân viên không chỉ bị tác động bởi những phần thưởng vật chất mà còn bị tác động bởi các yếu tố khác.
Theo dòng suy nghĩ này, Robbins (1998) xác định động lực là sự sẵn sàng cố gắng hết sức của một người trong điều kiện nhu cầu cá nhân được thỏa mãn[34][25]. Sự cố gắng này cho thấy các mức độ động lực là khác nhau bởi giá trị công việc và nhu cầu của người lao động là không giống nhau[27]. Theo Thông tư 08/2007/TTLT BYT ngày 05/6/2007, khối quản lý, hành chính chiếm tỷ lệ 18-20% trong tổng số cán bộ viên chức của cả bệnh viện[1]. Hoạt động chung tại bệnh viện không thể tách rời nhân viên khối hành chính với khối lâm sàng và cận lâm sàng, tất cả là một mắt xích, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
2 Bệnh viện CTCH TP Hồ Chí Minh là bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Sở Y Tế TP Hồ Chí Minh, là tuyến cao nhất của Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam về Cơ xương khớp, được Bộ Y tế giao nhiệm vụ phụ trách chỉ đạo tuyến, xây dựng mạng lưới 21 tỉnh, thành phía Nam từ Ninh Thuận trở vào cũng như chỉ đạo tuyến chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình tại 24 quận huyện của TP. Bệnh viện CTCH có 770 viên chức, người lao động, trong đó khối hành chính có 133 người, 01 tiến sĩ, 07 thạc sĩ, 11 chuyên khoa II, 54 đại học, còn lại là cán bộ khác, thời gian qua có ít nhất 03 nhân viên khối hành chính nghỉ việc, và 01 nhân viên mắc bệnh trầm cảm. Báo cáo của bệnh viện cho thấy công việc của nhân viên khối hành chính lại không đơn giản như cách chúng ta vẫn nghĩ. Có nhiều yêu cầu công việc cần phải thực hiện đối với họ, xử lý công việc theo đúng quy định của pháp luật.
Bên cạnh việc thực hiện các công việc có tính lặp đi lặp lại, không mang tính mới mẻ,khối hành chính phải đảm nhiệm khối lượng công việc rất lớn liên quan đến hỗ trợ nhóm điều trị và phục vụ cho bệnh nhân trong khi thu nhập lại hạn chế đã gây ra tình trạng chán nản trong công việc. Một số quy định của pháp luật và hướng dẫn của các bộ, ngành trên một số lĩnh vực chưa được kịp thời hoặc còn chồng chéo, chậm sửa đổi đã ảnh hưởng đến việc thực hiện các kế hoạch công tác của ngành. Năng lực, trình độ của một ít bộ phận viên chức công tác của khối hành chính chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới. Một số nhân viên chưa thể hiện được tính tính cực, chủ động trong công việc, còn tính trì trệ, ỉ lại nên phải thường xuyên kiểm tra, giám sát.
Văn bản nhiều, thay đổi liên tục gây áp lực cho nhân viên khối hành chính vì đòi hỏi sự linh hoạt từ nhân viên. Bên cạnh đó bệnh viện còn hạn chế về công nghệ thông tin, các phần mềm chuyên dụng tại các phòng chức năng chưa có do phòng công nghệ thông tin nhiều năm nay chưa tuyển dụng được nhân viên viết phần mềm, và bệnh viện cũng chưa xây dựng được kế hoạch thuê công ty ngoài viết phần mềm cho các phòng chức năng, điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chuyên môn của khối hành chính, báo cáo thống kê tổng hợp nhiều, thời gian báo cáo phải nhanh chóng gởi về Sở Y tế, làm cho nhân viên mệt mỏi và chán nản, giảm động lực làm việc. 3 Trong năm vừa qua đã có rất nhiều nhân viên khối hành chính không hoàn thành nhiệm vụ được giao (chiếm tỷ lệ 0.5%), trong khi các nhân viên y tế khối lâm sàng và cận lâm sàng đều hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vậy câu hỏi đặt ra là: Động lực làm việc của nhân viên khối hành chính bệnh viện CTCH Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới động lực làm việc của họ? Để trả lời hai câu hỏi trên, tôi tiến hành chọn đề tài “Động lực làm việc của nhân viên khối hành chính và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019” nhằm phần nào tìm ra những giải pháp giúp cho nhân viên khối hành chính có động lực hơn trong công việc.
4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả động lực làm việc của nhân viên khối hành chính tại bệnh viện CTCH Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên khối hành chính bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. Nhân lực y tế Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế,bao gồm cán bộ y tế chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người chăm sóc sức khỏe gia đình, lang y…)[36]. Từ định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là nhân lực y tế bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang công tác trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lương y, bà đỡ, mụ vườn)[37].
Quản lý nguồn nhân lực Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO), quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo hoàn thành tốt một công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất, chức năng của quản lý nguồn nhân lực gồm: (1) thu hút nguồn nhân lực, (2) đào tạo và phát triển, (3) duy trì nguồn nhân lực gồm 2 chức năng là kích thích, động viên nhân viên và duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong tổ chức[37]. Động lực và động lực làm việc “Động lực là các quá trình thể hiện cường độ, định lượng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức”[39]. “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.Động lực cá nhân là kết quả của nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người, trong môi 6 trường sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố: Văn hóa tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực, cũng như việc thực hiện các chính sách đó.
Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính mình; chẳng hạn như: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị[12]. Động lực làm việc của nhân viên y tế (NVYT) bị tác động bởi nhiều yếu tố bao gồm giá trị riêng của NVYT, đạo đức nghề nghiệp, sự trả công, môi trường làm việc, sự hỗ trợ của hệ thống y tế,… Kỹ năng và năng lực làm việc của NVYT không được tận dụng nếu động lực làm việc của NVYT yếu kém, muốn NVYT có động lực làm việc tốt cần phải đề cao giá trị đạo đức của NVYT, trả công thỏa đáng, tạo môi trường làm việc tốt và các việc hỗ trợ cho NVYT, đặc biệt là đảm bảo có đầy đủ các trang thiết bị, thuốc thiết yếu, cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin y tế[12]. Các phương hướng tạo động lực trong lao động Để tạo động lực cho người lao động, nhà quản lý cần hướng hoạt động của mình vào ba lĩnh vực then chốt với các phương hướng chủ yếu sau đây[12]: - Xác định nhiệm vụ và tiêu chuẩn thực hiện công việc của nhân viên - Tạo điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ - Kích thích lao động 1. Các công cụ tạo động lực và động viên người lao động 1.
Công cụ tài chính Tiền lương Tiền lương là số tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động để hoàn thành công việc theo chức năng nhiệm vụ quy định. Tiền lương là một trong những bộ phận quan trọng để tạo động lực cho người lao động, nó đóng vai trò kích thích người lao động hoàn thành công việc có hiệu quả cao.