phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Chƣơng 3: Giải pháp tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Giải quyết việc làm và phát triển nguồn nhân lực đang là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và có nguồn nhân lực dồi dào như ở nước ta. Vấn đề lao động - việc làm trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là một trong những vấn đề kinh tế, xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Cùng với phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì lao động – việc làm cũng được đổi mới một cách căn bản cả về nhận thức, về chủ trương chính sách và thực tiễn. Trong quá trình phát triển đó, hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cũng hình thành và phát triển ở Việt Nam nhằm đáp ứng một cách khách quan về cung – cầu nhân lực trong thị trường lao động. Trong nước và quốc tế đã có nhiều đề tài nghiên cứu, tài liệu và báo cáo khoa học bàn về vấn đề tư vấn nghề và giới thiệu việc làm. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã xuất bản nhiều tài liệu mang tính tổng kết thực tiễn và hướng dẫn tổ chức hoạt động dịch vụ việc làm, là cẩm nang quan trọng đối với các nước có thị trường lao động mới hình thành như ở nước ta.
Các tài liệu phải kể đến như: “Employment Service – A Guide Book”, ILO, Bangkok, 1999 (sách hướng dẫn về dịch vụ việc làm của Tổ chức Lao động Quốc tế, xuất bản tại Băng Cốc năm 1999); hay “The Public Employment Service in a Changing Labour Market”, ILO, Geneva, 2001 (Dịch vụ việc làm công trong một thị trường lao động luôn biến động, sách của Tổ chức Lao động Quốc tế, được xuất bản tại Giơ ne vơ năm 2001) v.v… Đối với trong nước, nhiều nhà giáo dục học, nhà hoạt động trong lĩnh vực lao động, nghề nghiệp và việc làm đã có những đóng góp to lớn cho sự hình thành và phát triển của hoạt động hướng nghiệp, trong đó có hoạt động tư vấn nghề và việc làm cho 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thanh, thiếu niên và học sinh, như: Phạm Tất Dong, Lê Đức Phúc, Nguyễn Thế Trường, Phạm Huy Thụ, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi, Phan Ngọc Luận, Nguyễn Thế Quảng, Phạm Thị Thanh, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Mạc Văn Trang v.v… Nhiều sách, tài liệu đã được xuất bản, như: “Giúp bạn chọn nghề” (1989) của tác giả Phạm Tất Dong, cuốn sách đã được Nhà xuất bản Thanh niên tái bản tháng 7 năm 2006 với nhiều tác giả cùng tham gia, đồng thời đã được bổ sung nhiều thông tin, tri thức mới trong lĩnh vực tư vấn chọn nghề và việc làm trong bối cảnh hiện nay; “Tài liệu tập huấn tư vấn nghề cho học sinh phổ thông năm 1992, 1994” do Phạm Huy Thụ chủ biên, đã đưa ra những quy trình và các TEST trắc nghiệm lý thú, sinh động được sử dụng trong công tác tư vấn hướng nghiệp. Đặc biệt, nhiều bài tham luận có giá trị của các tác giả tâm huyết với công tác hướng nghiệp đã được tổng hợp trong Kỷ yếu hội thảo Đối thoại Pháp - Á về “Vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam”, tổ chức tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội. Bên cạnh đó, báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học mã số CB -2001: “Xác định nội dung hoạt động dịch vụ việc làm và cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ việc làm”, do tác giả Doãn Mậu Diệp trình bày, đã làm sáng tỏ sự hình thành mang tính tất yếu khách quan của hoạt động dịch vụ việc làm ở nước ta trong bối cảnh nền kinh tế đang dần chuyển sang cơ chế thị trường. Những tài liệu nêu trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của công tác tư vấn nghề và giới thiệu việc làm.
Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào đề cập đến công tác tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên Quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Những khái niệm cơ bản. Bất cứ việc làm nào cũng gắn bó với một nghề cụ thể (hoặc một chuyên môn cụ thể), song không thể coi việc làm với nghề là đồng nghĩa. Hoặc, đôi khi, do xuất phát từ quan niệm về những kỹ năng của một hay nhiều nghề được cá nhân sử dụng trong quá trình lao động đã dẫn tới sự nhầm lẫn giữa nghề nghiệp với việc làm.
Do vậy, trước hết, chúng ta cần phân biệt giữa nghề và việc làm bằng cách làm rõ các khái niệm liên quan. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm Nghề. Nghề hay nghề nghiệp được nảy sinh, phát triển, tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội.
Trong xã hội công xã nguyên thủy, khi trình độ sản xuất còn thấp kém, chưa có sự phân công lao động theo những chuyên môn nhất định, vì vậy khái niệm nghề nghiệp chưa được rõ ràng, cụ thể. Nghề nghiệp, theo chữ La tinh (Professio), có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào đó, là hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại. Theo từ điển Tiếng Việt, nghề là “công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội”. Klimốp thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnh vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho mỗi con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cho việc tồn tại và phát triển” [23, tr.
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: tri thức lý thuyết, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, đạo đức phẩm chất nghề, hiệu quả do nghề mang lại. Những giá trị này có thể được hình thành theo con đường tự phát (do tích lũy kinh nghiệm trong quá trình sống với cộng đồng mà có) hoặc theo con đường tự giác (do được đào tạo). Tuy có nhiều định nghĩa, nhiều cách diễn tả về nghề, song tóm lại, khái niệm nghề gồm có những đặc trưng: công việc chuyên làm; phương tiện để kiếm sống; hoạt động chân tay và trí óc; gắn với con người một phần, hay cả cuộc đời; và gắn với xã hội… Nói về “nghề” người ta thường phân biệt “nghề nghiệp” và “chuyên môn”. Chuyên môn là: “Một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, trong đó, con người bằng sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất hoặc những giá trị tinh thần như là những phương tiện cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội” [16, tr.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chuyên môn là một khái niệm hẹp so với khái niệm nghề, nhiều chuyên môn tập hợp lại thành nghề. Nhưng chuyên môn lại hoàn toàn quy định hình thức của một dạng hoạt động lao động và mang tên gọi đặc trưng của nghề đó. Do vậy, khi xem xét nghề thì cũng phải phân biệt được từng chuyên môn trong nghề (Ví dụ: Nghề dạy học thì không có nghề dạy học chung chung mà phải gắn liền với giáo viên toán, giáo viên văn, giáo viên hóa v.v…, hoặc là giáo viên cấp 1, giáo viên cấp 2 v. Tóm lại, nghề nghiệp là một phạm trù lịch sử xã hội, có nghĩa là nghề được nảy sinh phát triển trong quá trình phát triển tiến bộ của xã hội, của khoa học kỹ thuật.
Có những nghề ra đời và phát triển lâu dài từ đời này qua đời khác và trở thành nghề truyền thống, như: nghề chạm khắc gỗ, gốm sứ, sơn mài,…, nhưng cũng có những nghề dần bị thay thế bằng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như nghề đánh máy chữ được thay bằng đánh máy vi tính. Đồng thời, cũng có những nghề mới ra đời do thành tựu của khoa học kỹ thuật đem lại, như: lập trình, nghề lắp ráp sửa chữa máy vi tính, video, nuôi rắn, nuôi tôm, nuôi ba ba v. Phân loại nghề nghiệp trong xã hội: Để phân loại nghề nghiệp trong xã hội, trước hết, chúng ta cần phân biệt nghề xã hội và nghề đào tạo. Nghề xã hội là nghề mà người hành nghề theo đúng sự phân công lao động xã hội trong thực tế đời sống sản xuất và dịch vụ; trong khi đó, nghề đào tạo lại được tổ chức trong nhà trường.
Thường thì nghề đào tạo là do nhiều nghề xã hội hợp thành, đôi khi nghề đào tạo cũng trùng với nghề xã hội. Như vậy, số nghề xã hội nhiều hơn so với nghề đào tạo. Ví dụ: danh mục nghề đào tạo lần thứ nhất ở Việt Nam được ban hành theo quyết định số 206/NĐ-KHDN tháng 8/1985 có 396 nghề đào tạo; lần thứ hai được ban hành theo quyết định số 89/TKCN-DN ngày 9/1/1992 có 288 nghề đào tạo. Trong xã hội có nhiều nghề khác nhau, đồng thời cũng có nhiều cách phân loại và mỗi cách chỉ thâu tóm được những đặc trưng cơ bản nhất của nghề theo bình diện nào đó.
Trên thế giới và Việt Nam, đã có nhiều nhà khoa học bàn đến việc phân loại nghề trong thế giới nghề nghiệp, điển hình như: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Phạm Tất Dong và Nguyễn Thế Trường, trong cuốn “Giúp bạn chọn nghề”, đã đưa ra cách phân loại nghề theo yêu cầu của nghề đối với người lao động. Theo đó, các nghề được phân vào 8 lĩnh vực, gồm: 1) Những nghề thuộc lĩnh vực hành chính; 2) Những nghề thuộc lĩnh vực tiếp xúc với con người; 3) Những nghề thợ (công nhân); 4) Những nghề trong lĩnh vực kỹ thuật; 5) Những nghề trong lĩnh vực văn học nghệ thuật; 6) Những nghề thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học; 7) Những nghề tiếp xúc với thiên nhiên; và 8) Những nghề có điều kiện lao động đặc biệt [25, tr.