Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường lao động Việt Nam chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô với khoảng 83 triệu dân và hơn 44,3 triệu người thuộc lực lượng lao động. Mỗi năm, hàng vạn quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự xuất ngũ trở về địa phương, đứng trước bước ngoặt mang tính quyết định về việc chọn ngành học nghề và tìm kiếm việc làm để lập thân, lập nghiệp. Tuy nhiên, trước bối cảnh chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công tác tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho đối tượng đặc thù này vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng mất cân đối nghiêm trọng giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài "Đổi mới tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên Quân đội đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự" của tác giả Ngô Xuân Liễu, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phạm Tất Dong tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán cấp thiết về quản lý và tổ chức hướng nghiệp trong lực lượng vũ trang. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát đánh giá toàn diện thực trạng mạng lưới xúc tiến việc làm quân đội trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2001-2005, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả chắp nối cung - cầu lao động.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên mức 40% vào năm 2010, đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 120/HĐBT của Chính phủ về giải quyết việc làm, củng cố vững chắc chính sách hậu phương quân đội và xây dựng nguồn lực quân dự bị động viên chất lượng cao cho đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại nghề nghiệp và tâm lý học lao động của E.A. Klimov kết hợp với các công trình nghiên cứu hướng nghiệp của GS. Phạm Tất Dong và Nguyễn Thế Trường. Luận văn tiếp cận thế giới nghề nghiệp thông qua 8 lĩnh vực chuyên môn chính và 5 dấu hiệu đối tượng lao động (Người - Thiên nhiên, Người - Kỹ thuật, Người - Người, Người - Hệ thống ký hiệu, Người - Nghệ thuật).

Mô hình nghiên cứu cốt lõi được tác giả xác lập là "Tam giác điều kiện chọn nghề tối ưu", xác định miền lựa chọn nghề nghiệp lý tưởng nằm ở điểm giao thoa giữa 3 yếu tố: "Tôi muốn" (hứng thú, sở thích, nguyện vọng cá nhân), "Tôi có thể" (năng lực, tố chất tâm sinh lý, sức khỏe) và "Tôi phải" (nhu cầu nhân lực thực tế của thị trường lao động và sự phát triển kinh tế địa phương).

Bên cạnh đó, luận văn chuẩn hóa hệ thống khái niệm chuyên ngành dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và thông lệ quốc tế:

  • Nghề nghiệp: Là dạng lao động đòi hỏi trình độ đào tạo nhất định, tạo ra giá trị vật chất hoặc tinh thần để con người sinh tồn và phát triển lâu dài.
  • Việc làm: Theo Điều 18 Bộ luật Lao động Việt Nam và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập hợp pháp mà pháp luật không ngăn cấm.
  • Tư vấn nghề: Hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo dục và y học nhằm đánh giá nhân cách, đối chiếu yêu cầu của nghề với năng lực cá nhân để đưa ra lời khuyên chọn nghề khoa học với 4 mức độ phù hợp nghề (không phù hợp, phù hợp một phần, phù hợp phần lớn, phù hợp hoàn toàn).
  • Dịch vụ việc làm (DVVL): Hoạt động chắp nối cung - cầu lao động, hỗ trợ tạo việc làm theo tinh thần Công ước số 2 và Công ước số 181 của ILO.
  • Quản lý và tổ chức: Sự tác động có ý thức thông qua chu trình 4 chức năng (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) để vận hành bộ máy xúc tiến việc làm đạt hiệu quả tối ưu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ các cuộc điều tra lao động - việc làm thường niên của Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004-2005), cùng hệ thống cẩm nang dịch vụ việc làm công của ILO (Bangkok 1999, Geneva 2001) và báo cáo thực tế từ mạng lưới 170 trung tâm giới thiệu việc làm trên 64 tỉnh thành cả nước.

Về nguồn dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin với cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 700 học viên tại các trường dạy nghề quân đội và phiếu trưng cầu ý kiến từ 150 cán bộ quản lý, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài quân đội. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các Quân khu, Quân đoàn, Quân binh chủng trải dài từ Bắc vào Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2001 đến năm 2005.

Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm:

  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu: Phân tích các biến động về cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, vùng lãnh thổ và trình độ chuyên môn kỹ thuật.
  • Phương pháp đo lường nhân trắc học và trắc nghiệm tâm lý: Ứng dụng các chỉ số sinh lý thể chất như chỉ số Pignet (đo thể lực qua chiều cao, cân nặng, vòng ngực), chỉ số hô hấp Demeny, lực bóp tay, lực lưng; kết hợp các bộ công cụ trắc nghiệm tâm lý chuẩn hóa như test đo độ bền vững chú ý Bourdon/Riss, trắc nghiệm trí tuệ Raven, bảng phân loại 8 dạng tính cách của Isabel Briggs và 4 kiểu khí chất thần kinh.
  • Phương pháp chuyên gia: Kiểm chứng độ tin cậy, tính cần thiết và tính khả thi của hệ thống giải pháp đổi mới tổ chức.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động tư vấn nghề trong quân đội, đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý giáo dục khoa học với các phép đo tâm - sinh lý định lượng chính xác, tránh hoàn toàn cảm tính chủ quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm của luận văn đã chỉ ra những khoảng trống và nghịch lý lớn trong công tác hướng nghiệp và thị trường lao động tại thời điểm nghiên cứu:

  1. Khủng hoảng trong nhận thức chọn nghề của người học: Khảo sát trên 700 học viên học nghề cho thấy có tới 12,0% học viên hoàn toàn thờ ơ với ngành nghề đang theo học và 17,4% bày tỏ nguyện vọng muốn chuyển sang nghề khác do trước đó chọn nghề sai lầm, thiếu thông tin định hướng. Tình trạng này ở thanh niên quân đội sau khi xuất ngũ diễn ra tương tự do thiếu sự tư vấn trước khi rời quân ngũ.

  2. Cơ cấu lực lượng lao động bất hợp lý nghiêm trọng: Trong tổng số 44,3 triệu lao động cả nước năm 2005, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 24,8% (tăng khiêm tốn 2,2% so với mức 22,6% năm 2004). Cơ cấu phân tầng kỹ thuật có sự lệch pha lớn: công nhân kỹ thuật không bằng chiếm tới 48,86%, trung học chuyên nghiệp chiếm 21,15%, sơ cấp có chứng chỉ nghề chiếm 11,94%, cao đẳng chiếm 8,40% và công nhân kỹ thuật có bằng chỉ chiếm 9,66%. Thực trạng này tạo ra nghịch lý "vừa thừa thầy vừa thiếu thợ lành nghề".

  3. Sự phân hóa rõ rệt theo ngành kinh tế và vùng địa lý: Lao động khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo với 56,8% (24.677 nghìn người), khu vực II (Công nghiệp và xây dựng) chiếm 17,9% (7.769,6 nghìn người) và khu vực III (Dịch vụ) chiếm 25,3% (11.010 nghìn người). Vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất với 37,4%, trong khi Tây Bắc chỉ đạt 13,5% và Tây Nguyên có tới 72,9% lao động tập trung ở khu vực nông nghiệp lạc hậu.

  4. Hạn chế trong mô hình tổ chức xúc tiến việc làm quân đội: Sau hơn 10 năm thành lập theo Quyết định 645/QĐ-QP ngày 25/10/1994 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, các Phòng Tư vấn nghề và Giới thiệu việc làm tại các trường nghề quân đội chủ yếu thực hiện tư vấn sơ bộ đơn giản, thiếu trang thiết bị đo đạc chuyên sâu, tỷ lệ giới thiệu việc làm thành công sau đào tạo mới đạt khoảng 28,5% so với tổng nhu cầu đăng ký.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các hạn chế trên xuất phát từ tàn dư tâm lý thời kỳ bao cấp, khi người lao động quen với sự phân công thụ động của Nhà nước, dẫn đến tư tưởng coi trọng bằng cấp hàn lâm hơn kỹ năng thực hành và định kiến "học nghề là bước đường cùng". Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp lý về dịch vụ việc làm công chưa đồng bộ, thiếu nguồn kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất và công cụ trắc nghiệm chuẩn mực.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các cảnh báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và nghiên cứu của Doãn Mậu Diệp về dịch vụ việc làm tại các quốc gia đang chuyển đổi: khi thị trường lao động vận hành tự do, nếu thiếu bàn tay điều tiết thông qua tư vấn và chắp nối thông tin thì chi phí xã hội cho thất nghiệp và đào tạo lại sẽ tăng vọt.

Trong thực tế trình bày báo cáo, các dữ liệu phân bổ này được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ hình tròn (pie chart) thể hiện tỷ trọng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (56,8% - 17,9% - 25,3%) và biểu đồ cột so sánh nhu cầu tuyển dụng lao động kỹ thuật tăng trưởng 5%/năm trong giai đoạn 2005-2007. Bảng ma trận đối chiếu giữa 8 nhóm tính cách và các chỉ số thể lực nhân trắc học (Pignet, Demeny) là bằng chứng khoa học cho thấy tư vấn nghề chuyên sâu có thể giảm thiểu tới hơn 80% rủi ro bỏ nghề hoặc chán nghề của quân nhân xuất ngũ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá nhằm đổi mới toàn diện tổ chức hoạt động tư vấn nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên quân đội:

  1. Đổi mới và nâng cao nhận thức thông qua tuyên truyền giáo dục:

    • Hành động: Triển khai chương trình truyền thông hướng nghiệp trực tiếp tại 100% đơn vị trung đoàn, sư đoàn cho quân nhân chuẩn bị xuất ngũ trước thời điểm giải ngũ từ 3 đến 6 tháng.
    • Mục tiêu: Nâng tỷ lệ quân nhân hiểu rõ năng lực bản thân và nhu cầu thị trường lên trên 90%, giảm tỷ lệ chọn sai nghề xuống dưới 5% trong giai đoạn 2006-2010.
    • Chủ thể thực hiện: Cục Quân lực, Cục Chính trị phối hợp với các Trường dạy nghề và Trung tâm Dịch vụ việc làm Quân đội.
  2. Hoàn thiện thể chế, chính sách và kiện toàn bộ máy tổ chức:

    • Hành động: Rà soát, sửa đổi Quyết định 645/QĐ-QP, xây dựng quy chế tổ chức và định biên chuẩn cho Phòng Tư vấn nghề và Giới thiệu việc làm tại các đơn vị cơ sở; bổ sung ngân sách sự nghiệp và đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin quản lý lao động.
    • Mục tiêu: Hoàn thành kiện toàn 100% bộ máy tổ chức tại các Quân khu, Quân chủng trong thời gian 24 tháng; trang bị phần mềm kết nối dữ liệu việc làm thống nhất toàn quân.
    • Chủ thể thực hiện: Bộ Quốc phòng, Ban Chỉ đạo Xúc tiến việc làm Bộ Quốc phòng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
  3. Chuẩn hóa nội dung, công cụ và quy trình kỹ thuật tư vấn - giới thiệu việc làm:

    • Hành động: Ứng dụng đồng bộ quy trình tư vấn nghề 5 bước (Giao tiếp - Thu thập thông tin - Khơi dậy tiềm năng - Quyết định - Kết thúc) kết hợp quy trình giới thiệu việc làm 15 bước và quy trình xử lý 9 bước cho việc làm trống. Trang bị các bộ test chuẩn hóa (Raven, Bourdon, chỉ số nhân trắc Pignet, Demeny, máy đo độ nhìn sâu của mắt).
    • Mục tiêu: Đưa 100% cơ sở đào tạo nghề quân đội chuyển từ tư vấn sơ bộ sang kết hợp tư vấn chuyên sâu khoa học trong lộ trình 2006-2008.
    • Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu các trường dạy nghề, giám đốc các trung tâm dịch vụ việc làm quân đội.
  4. Nâng cao năng lực chuyên môn và chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tư vấn:

    • Hành động: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về tâm lý học lao động, kỹ năng chẩn đoán nhân cách, kỹ năng giao tiếp và phân tích thị trường lao động; thực hiện đánh giá sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn.
    • Mục tiêu: Đến năm 2010, 100% cán bộ làm công tác tư vấn nghề và giới thiệu việc làm trong quân đội đạt chuẩn nghiệp vụ chuyên ngành.
    • Chủ thể thực hiện: Các học viện, viện nghiên cứu sư phạm và các hiệp hội nghề nghiệp uy tín.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan tham mưu trong lực lượng vũ trang: Cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chính sách hậu phương quân đội, tổ chức định hướng nghề nghiệp cho hạ sĩ quan và chiến sĩ chuẩn bị xuất ngũ, gắn liền công tác dạy nghề với xây dựng lực lượng dự bị động viên vững mạnh.

  2. Ban Giám hiệu các trường dạy nghề và Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm: Sử dụng luận văn làm tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ để tái cấu trúc phòng ban chuyên môn, áp dụng chuẩn xác quy trình 15 bước trợ giúp người tìm việc và 9 bước khai thác chỗ làm việc trống nhằm gia tăng tỷ lệ chắp nối cung - cầu thành công.

  3. Nhà nghiên cứu, giảng viên chuyên ngành Quản lý giáo dục và Tâm lý học lao động: Khai thác nguồn tài liệu tham khảo phong phú về khung lý thuyết hướng nghiệp suốt đời, mô hình chọn nghề tối ưu, cùng hệ thống phương pháp luận đo lường nhân trắc học và ứng dụng bài kiểm tra tâm lý trong định hướng nghề nghiệp.

  4. Thanh niên chuẩn bị xuất ngũ và người lao động trẻ: Tiếp cận mô hình tam giác chọn nghề ("Tôi muốn - Tôi có thể - Tôi phải") để tự đánh giá năng lực bản thân, loại bỏ tâm lý chọn nghề tự phát và xây dựng lộ trình học tập, phát triển sự nghiệp bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao công tác tư vấn nghề cho quân nhân xuất ngũ lại mang tính cấp thiết đặc thù?

Khảo sát thực tế cho thấy 17,4% người học nghề muốn chuyển nghề và 12,0% thờ ơ do chọn sai hướng đi ban đầu. Hàng vạn quân nhân xuất ngũ mỗi năm có phẩm chất kỷ luật và thể lực tốt nhưng bị gián đoạn thông tin thị trường lao động. Tư vấn nghề chuẩn xác giúp họ nhanh chóng hòa nhập xã hội, chọn đúng nghề phù hợp và giảm thiểu rủi ro thất nghiệp.

2. Mô hình "Tam giác chọn nghề tối ưu" hoạt động như thế nào trong thực tiễn?

Mô hình xác định quyết định nghề nghiệp chuẩn xác chỉ xuất hiện tại giao điểm của 3 thành tố: "Tôi muốn" (sở thích, nguyện vọng cá nhân), "Tôi có thể" (năng lực, thể chất, sức khỏe) và "Tôi phải" (nhu cầu tuyển dụng thực tế của địa phương và xã hội). Người làm tư vấn có nhiệm vụ đo lường và đối chiếu 3 yếu tố này để đưa ra lời khuyên tối ưu cho người học.

3. Những công cụ đo lường tâm - sinh lý nào được khuyến nghị áp dụng trong tư vấn chuyên sâu?

Luận văn khuyến nghị kết hợp chặt chẽ các chỉ số nhân trắc học thể chất như chỉ số Pignet (tương quan chiều cao, cân nặng, lồng ngực), chỉ số hô hấp Demeny, lực cơ lưng/tay với các bài trắc nghiệm tâm lý chuẩn hóa như test đo độ bền vững chú ý Bourdon/Riss, trắc nghiệm trí tuệ Raven và trắc nghiệm 8 nhóm tính cách của Isabel Briggs.

4. Hệ thống Xúc tiến việc làm Quân đội có vai trò gì đối với an ninh quốc phòng?

Bên cạnh chức năng kinh tế - xã hội, việc dạy nghề và giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ giúp duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ lực lượng quân dự bị động viên. Khi quân nhân có tay nghề kỹ thuật cao và việc làm ổn định, khả năng sẵn sàng động viên và huy động kỹ thuật phục vụ quốc phòng khi có tình huống xảy ra sẽ đạt hiệu quả cao nhất.

5. Làm thế nào để các trường nghề quân đội tối ưu hóa quy trình chắp nối việc làm?

Đơn vị cơ sở cần áp dụng nghiêm ngặt quy trình 15 bước trợ giúp người tìm việc, kết hợp 9 bước xử lý hồ sơ việc làm trống và liên kết dữ liệu với hơn 50 doanh nghiệp tiếp nhận tại địa phương. Việc số hóa sổ ghi chép, xây dựng ngân hàng hồ sơ ứng viên và tổ chức định kỳ các phiên giao dịch việc làm sẽ giúp tăng tỷ lệ tuyển dụng thành công lên trên 70%.

Kết luận

  • Tổng kết đóng góp lý luận: Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý và tổ chức hoạt động tư vấn nghề, giới thiệu việc làm trong môi trường quân đội, làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa "nghề" và "việc làm" trong nền kinh tế thị trường.
  • Bức tranh thực trạng toàn diện: Phản ánh chính xác thực trạng lao động - việc làm giai đoạn 2001-2005, chỉ ra tỷ lệ bất cập 17,4% người học muốn chuyển nghề và phân tích nguyên nhân khiến hệ thống xúc tiến việc làm quân đội chưa phát huy hết tiềm năng sau 10 năm vận hành.
  • Hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng cao: Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế pháp lý, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật 5 bước tư vấn đến chuẩn hóa 100% đội ngũ cán bộ chuyên trách.
  • Lộ trình và tầm nhìn phát triển: Các giải pháp được thiết kế gắn liền với Chương trình Mục tiêu Quốc gia về việc làm giai đoạn 2006-2010, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 40% và hiện đại hóa 130 trung tâm giới thiệu việc làm trên toàn quốc.
  • Lời kêu gọi hành động: Các cơ quan quản lý nhà nước, Bộ Quốc phòng và các cơ sở đào tạo nghề cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các quy trình tư vấn nghề chuyên sâu, đầu tư trang thiết bị đo lường nhân trắc học và xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động để hiện thực hóa mục tiêu lập thân, lập nghiệp cho thanh niên quân đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.