Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thái Bình là vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống văn hiến, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân, danh tướng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc như Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục Nương (thế kỷ I) thời Hai Bà Trưng, Lý Bôn (Lý Bí - Lý Nam Đế) lập nên nước Vạn Xuân, Sứ quân Trần Lãm (thế kỷ X), và nhà bác học Lê Quý Đôn. Cùng với các công trình di tích lâu đời như đền Trần (Tiến Đức – Hưng Hà), đền Đồng Bằng (An Lễ – Quỳnh Phụ), di tích chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư) là một công trình cổ kính mang giá trị kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử đặc biệt quan trọng của địa phương và cả nước. Chùa Keo được xác định là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, giàu tiềm năng, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ngành du lịch tỉnh Thái Bình phát triển.

Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn cho thấy việc khai thác di tích chùa Keo phục vụ du lịch trong những năm qua chưa phát huy được hiệu quả tương xứng với tiềm năng vốn có. Hoạt động du lịch tại điểm đến này còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể và đồng bộ, đồng thời công tác quản lý tài nguyên của các cấp chính quyền địa phương chưa thực sự chặt chẽ, dẫn đến sự lãng phí tài nguyên văn hóa. Bên cạnh đó, mức độ đóng góp về mặt kinh tế từ hoạt động du lịch tại di tích vào sự phát triển chung của địa phương còn rất hạn chế. Từ thực tế này, tác giả đã lựa chọn đề tài "Khai thác di tích chùa Keo ở Thái Bình phục vụ phát triển du lịch" làm khóa luận tốt nghiệp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Nghiên cứu, tìm hiểu toàn diện di tích chùa Keo nhằm làm rõ các giá trị tổng thể về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, lễ hội cổ truyền và các tiềm năng có thể khai thác phục vụ du lịch.
  2. Đánh giá thực trạng hoạt động khai thác du lịch tại di tích chùa Keo trong không gian du lịch chung của tỉnh Thái Bình, chỉ ra những mặt tồn tại và bất cập.
  3. Đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả khai thác di tích chùa Keo gắn với bảo tồn di sản và phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Di tích chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian phân bố di tích và tiến trình thời gian hình thành, tồn tại của di tích chùa Keo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận của du lịch học và văn hóa học, kết hợp các văn bản quy phạm pháp luật và giáo trình chuyên ngành:

  • Khung khái niệm và cơ sở pháp lý:

    • Khái niệm về di tích lịch sử - văn hóa, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể theo Luật Di sản văn hóa. Di tích lịch sử - văn hóa được xác định là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
    • Khái niệm du lịch văn hóa theo Điều 4 Luật Du lịch năm 2005: "Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống."
    • Định nghĩa của PGS.TS Trần Đức Thanh trong cuốn Nhập môn khoa học du lịch: "Du lịch văn hóa là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch văn hóa."
    • Hệ thống phân loại di tích gồm: di tích khảo cổ (di chỉ cư trú, di chỉ mộ táng), di tích lịch sử - văn hóa, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích cách mạng, và danh lam thắng cảnh.
    • Đặc trưng và nội dung của sản phẩm du lịch văn hóa, tính hai mặt trong mối quan hệ giữa hoạt động du lịch và công tác bảo tồn di tích.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Là phương pháp chủ đạo nhằm kế thừa, chọn lọc, phân tích các tư liệu lịch sử, văn hóa, du lịch từ nhiều nguồn tài liệu thứ cấp đã công bố để hình thành khung lý thuyết và góc nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.
    • Phương pháp thực địa: Khảo sát trực tiếp tại không gian di tích chùa Keo và địa bàn tỉnh Thái Bình nhằm thu thập dữ liệu xác thực, phục vụ lập ngân hàng thông tin và số liệu thực tế cho đề tài.
    • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp: Sử dụng để định lượng hóa các dữ liệu kinh tế - xã hội, hạ tầng, lượng khách, so sánh các yếu tố tác động và tổng hợp luận cứ khoa học để xây dựng các dự báo, giải pháp phát triển du lịch.
  • Nguồn dữ liệu: Các văn bản pháp luật hiện hành (Luật Du lịch 2005, Luật Di sản văn hóa); số liệu niên giám thống kê, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình năm 2012, 2013 và 6 tháng đầu năm 2014; các công trình nghiên cứu lịch sử, kiến trúc, văn hóa dân gian và số liệu kiểm kê di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng về di tích lịch sử văn hóa và mối quan hệ tương hỗ với hoạt động du lịch:

  • Khái niệm và phân loại di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu:
    • Đình làng: Yếu tố vật chất quan trọng trong văn hóa làng xã, ra đời từ khoảng thế kỷ XV và đạt đỉnh cao điêu khắc vào thế kỷ XVII (tiêu biểu như đình Thụy Phiêu 1531, Lỗ Hạnh 1576, La Phù 1579, Tây Đằng 1583). Đình đảm nhiệm 3 chức năng chính: hành chính (nơi xử phạt, khao vọng, phổ biến hương ước), văn hóa (nơi tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trò chơi dân gian) và tôn giáo (thờ Thành Hoàng làng: nhân thần, nhiên thần, thiên thần, tiền thần, tiền sư). Kiến trúc đình phát triển từ chữ "Nhất" (thời Mạc), sau đó mở rộng thành chữ "Nhị", chữ "Đinh" (chuôi vồ), và chữ "Công".
    • Chùa: Phân hóa thành chùa làng và chùa nước. Kiến trúc chùa miền Bắc đa dạng: từ dạng tháp thuở ban đầu, phát triển sang các kiểu chữ "Nhất", chữ "Đinh", chữ "Công" (gồm tam quan, bái đường, đại bái, thiêu hương, nhà hộ, thượng điện), "Nội công ngoại quốc" (tam quan, đại bái, thiêu hương, thượng điện, dải vũ, nhà thờ tổ, nhà tăng, nhà khách), và chữ "Tam". Miền Trung phổ biến chữ "Khẩu", chữ "Nhị"; miền Nam thịnh hành chữ "Tam" hoặc "Nội công ngoại quốc". Điểm đặc biệt của chùa Việt là sự kết hợp "tiền Phật hậu Thánh" và hòa hợp tín ngưỡng bản địa.
    • Đền, Miếu, Nghè, Am, Quán: Không gian thờ phụng thần linh, thánh mẫu, nhiên thần, anh hùng dân tộc hoặc mang chức năng Đạo giáo (Đạo quán) như quán Giá, chùa Sổ.
  • Quan hệ giữa du lịch với di tích lịch sử văn hóa:
    • Du lịch văn hóa là phương thức quảng bá hình ảnh di sản, giao lưu văn hóa giữa các vùng miền theo phương châm "hòa nhập nhưng không hòa tan", đồng thời tạo nguồn thu tái đầu tư cho bảo tồn và đáp ứng nhu cầu tâm linh, giáo dục truyền thống yêu nước.
    • Tác động tiêu cực: Hoạt động du lịch phát triển tự phát gây quá tải sức chứa, làm biến dạng cảnh quan, ô nhiễm môi trường rác thải, phát sinh tệ nạn xã hội (mê tín dị đoan, ăn xin, trộm cắp) và thương mại hóa làm sai lệch giá trị di tích.
  • Xu hướng phát triển của du lịch gắn với di tích: Gia tăng nhanh chóng về số lượng khách; xu thế xã hội hóa thành phần du khách (chuyển từ du lịch quý tộc sang du lịch đại chúng); mở rộng địa bàn từ trục Bắc - Nam (Địa Trung Hải - 3 chữ S) sang vùng núi tuyết ("Vàng trắng") và chuyển dịch sang trục Tây - Đông (châu Á - Thái Bình Dương); từng bước kéo dài và khắc phục tính thời vụ.

Chương 2: Thực trạng khai thác du lịch tại di tích chùa Keo – Thái Bình

Chương 2 trình bày bức tranh toàn cảnh về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật và thực trạng tài nguyên du lịch tỉnh Thái Bình làm nền tảng đánh giá thực trạng chùa Keo:

  • Khái quát về tỉnh Thái Bình:
    • Vị trí và địa hình: Nằm trong vùng duyên hải Bắc Bộ, tọa độ 20°18′ đến 20°44′ vĩ độ Bắc, 106°06′ đến 106°39′ độ kinh Đông. Cách Hà Nội 110 km về phía đông nam, cách Hải Phòng 70 km về phía tây nam; tiếp giáp Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định và biển Đông (bờ biển dài 52 km). Địa hình bằng phẳng, độ dốc <1%, cao độ phổ biến 1–2m.
    • Thủy văn và sinh thái: Có 4 con sông/phân lưu lớn: sông Hóa (35 km), sông Luộc (53 km), hạ lưu sông Hồng (67 km), sông Trà Lý (65 km) đổ ra 4 cửa sông (Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Thủy triều làm xâm nhập mặn sâu 15–20 km. Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng được UNESCO công nhận năm 2004, trong đó Thái Bình sở hữu 2 phân vùng (Rừng ngập mặn Thái Thụy và Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải).
    • Lịch sử hành chính: Thành lập ngày 21/3/1890, điều chỉnh ranh giới ngày 28/11/1894; sáp nhập các huyện thành Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Vũ Thư ngày 17/6/1969; thành lập thành phố Thái Bình ngày 29/4/2004.
    • Kinh tế - xã hội: Năm 2013, GDP tỉnh đạt 37.188 tỷ đồng (tăng 8,8% so với 2012); cơ cấu Nông lâm thủy sản - Công nghiệp, xây dựng - Dịch vụ đạt tương ứng 31,97% - 34,76% - 33,27%; GDP bình quân đạt 26,1 triệu đồng/người; CPI xếp thứ 21 toàn quốc (tăng 4 bậc). Tỷ lệ dân số nông thôn chiếm 90,1%. 6 tháng đầu năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 16.165,3 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 446,85 triệu USD, nhập khẩu đạt 470,72 triệu USD.
  • Tiềm năng và hạ tầng du lịch tỉnh Thái Bình:
    • Tỉnh có trên 1.400 di tích lịch sử - văn hóa (261 di tích được xếp hạng), gần 82 lễ hội đặc sắc, 16 loại hát múa và trò chơi dân gian (chèo Làng Khuốc, múa rối nước làng Nguyên Xá, làng vườn Bách Thuận). Phân bố theo các cụm: cụm TP Thái Bình và phụ cận (chùa Keo, đền Đồng Xâm, chùa Đoan Túc, đình Thượng Liệt, khu lưu niệm Bác Hồ); cụm Hưng Hà (khu lăng mộ vua Trần, cung Long Hưng, từ đường Lê Quý Đôn, đền Tiên La, chùa Diệc); cụm đền Đồng Bằng và phụ cận; khu du lịch Đồng Châu – Cồn Vành – Cồn Thủ.
    • Hạ tầng giao thông và dịch vụ: Các tuyến QL10, QL39, QL37, đường 39B (TL458), Cảng Diêm Điền tiếp nhận tàu 1.000 tấn, dự án Cầu Hiệp (dài 542,5m, rộng 12m). Lưới điện gồm 1 trạm 220kV (Nguyên Xá - Đông Hưng) với 42,2 km đường dây và 8 trạm 110kV với 143 km đường dây. Hệ thống y tế gồm bệnh viện đa khoa tỉnh, 7 trung tâm y tế, 278 trạm y tế xã phường.
    • Cơ sở lưu trú du lịch: Năm 2012 toàn tỉnh có 140 cơ sở lưu trú (01 khách sạn 4 sao là Khách sạn Dầu khí Thái Bình tại trung tâm thành phố với hơn 400 phòng, 04 khách sạn 2 sao, 01 khách sạn 1 sao; huyện Kiến Xương có khoảng 7 khách sạn với 100 phòng; huyện Đông Hưng có khoảng 3 khách sạn với 90 phòng).
  • Thực trạng khai thác di tích chùa Keo:
    • Phân tích chi tiết giá trị di tích chùa Keo (lịch sử tạo dựng, kiến trúc gỗ cổ truyền, lễ hội truyền thống).
    • Đánh giá hiện trạng tổ chức đón tiếp khách tham quan, các nguồn thu từ hoạt động du lịch và chỉ ra các tồn đọng: quản lý còn lỏng lẻo, dịch vụ nghèo nàn, thiếu sự liên kết tuyến điểm với các di tích lân cận.

Chương 3: Một số giải pháp khai thác di tích chùa Keo phục vụ phát triển du lịch tại Thái Bình

Chương này đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết các tồn tại đã nêu:

  • Bảo tồn di tích thông qua hoạt động du lịch: Thực hiện bảo tồn nghiêm ngặt cấu trúc kiến trúc nguyên gốc của chùa Keo; kiểm soát sức chứa của điểm đến trong mùa lễ hội nhằm ngăn chặn sự xuống cấp của di tích; trích lập nguồn thu từ du lịch để tái phục vụ công tác tôn tạo, tu bổ.
  • Xây dựng hình ảnh điểm đến: Định vị thương hiệu di tích chùa Keo trên bản đồ du lịch vùng Đồng bằng sông Hồng; tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá thông qua các ấn phẩm, phương tiện truyền thông; nâng cao văn hóa ứng xử du lịch và chất lượng hướng dẫn viên tại điểm.
  • Kết hợp với các loại hình du lịch khác: Xây dựng các tuyến du lịch chuyên đề và tổng hợp liên kết chùa Keo với các di tích trong tỉnh (đền Trần, đền Đồng Bằng, đền Tiên La), kết hợp với du lịch sinh thái (Cồn Vành, Cồn Thủ, rừng ngập mặn Thái Thụy) và du lịch làng nghề truyền thống (chạm bạc Đồng Xâm, dệt chiếu Hưng Hà, làng vườn Bách Thuận) nhằm kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa các chỉ tiêu thực trạng kinh tế - xã hội, hạ tầng và tài nguyên du lịch tác động trực tiếp đến việc khai thác di tích chùa Keo tại Thái Bình:

Nhóm chỉ tiêu Thông số thực tế ghi nhận trong nghiên cứu
Kinh tế tỉnh Thái Bình (2013) GDP đạt 37.188 tỷ đồng (tăng 8,8%); GDP bình quân: 26,1 triệu đồng/người; CPI xếp hạng: 21 toàn quốc; Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp (31,97%) - Công nghiệp (34,76%) - Dịch vụ (33,27%).
Tài nguyên du lịch toàn tỉnh >1.400 di tích lịch sử - văn hóa (261 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và quốc gia); gần 82 lễ hội đặc sắc; 16 loại hình hát múa, trò chơi dân gian.
Cơ sở lưu trú du lịch (2012) 140 cơ sở lưu trú; gồm 01 khách sạn 4 sao (Khách sạn Dầu khí Thái Bình, >400 phòng), 04 khách sạn 2 sao, 01 khách sạn 1 sao. Kiến Xương có ~7 khách sạn (100 phòng), Đông Hưng có ~3 khách sạn (90 phòng).
Hạ tầng giao thông - kỹ thuật Cảng Diêm Điền tiếp nhận tàu 1.000 tấn; Cầu Hiệp (542,5m x 12m); 01 trạm biến áp 220kV (42,2 km dây), 08 trạm biến áp 110kV (143 km dây); 278 trạm y tế xã phường.

Đóng góp của khóa luận:

  • Về mặt lý luận và tài liệu: Khắc phục khoảng trống của các tài liệu trước đó (vốn chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin, thống kê mô tả lịch sử đơn thuần) bằng việc đặt di tích chùa Keo vào hệ thống lý thuyết du lịch học, tiếp cận di tích như một sản phẩm du lịch văn hóa hoàn chỉnh.
  • Về mặt thực tiễn: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực trạng chi tiết về kinh tế, hạ tầng và tài nguyên du lịch phụ cận; chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng khai thác tự phát và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa bảo tồn di tích với đa dạng hóa sản phẩm du lịch địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chính vào không gian di tích chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư) và các chuỗi số liệu thống kê kinh tế - xã hội, hạ tầng của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2012 đến 6 tháng đầu năm 2014. Các phân tích dịch vụ phụ trợ tại điểm di tích chưa đi sâu vào cơ chế quản lý chuỗi cung ứng dịch vụ tư nhân.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Nghiên cứu mở rộng việc liên kết chuỗi sản phẩm du lịch di sản chùa Keo với các tuyến du lịch tâm linh liên tỉnh (Thái Bình - Nam Định - Ninh Bình) trong không gian Khu dự trữ sinh quyển thế giới châu thổ sông Hồng; đánh giá mô hình đồng quản lý di sản giữa cộng đồng dân cư địa phương và cơ quan quản lý nhà nước.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa học: Cung cấp khung phương pháp luận rõ ràng trong việc đánh giá và xây dựng phương án khai thác một di tích lịch sử - kiến trúc phục vụ phát triển du lịch.
  • Cơ quan quản lý văn hóa - du lịch địa phương: Phần dữ liệu tổng hợp về hệ thống di tích, hạ tầng lưu trú và các định hướng liên kết tuyến điểm (Chương 2 và Chương 3) có giá trị thực tiễn trong công tác quy hoạch du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận khái niệm du lịch văn hóa dựa trên những căn cứ nào?
Tác giả tiếp cận khái niệm du lịch văn hóa dựa trên Điều 4 Luật Du lịch năm 2005 và định nghĩa trong giáo trình Nhập môn khoa học du lịch của PGS.TS Trần Đức Thanh, nhấn mạnh bản chất của du lịch văn hóa là khai thác các giá trị môi trường nhân văn và bản sắc truyền thống gắn với cộng đồng.

2. Tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Thái Bình được ghi nhận gồm những số liệu nào?
Toàn tỉnh Thái Bình có trên 1.400 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 261 di tích đã được xếp hạng; gần 82 lễ hội truyền thống đặc sắc cùng 16 loại hình nghệ thuật diễn xướng, trò chơi dân gian (tiêu biểu như chèo làng Khuốc, múa rối nước Nguyên Xá).

3. Khảo sát hạ tầng lưu trú tỉnh Thái Bình năm 2012 cho thấy những kết quả gì?
Toàn tỉnh có 140 cơ sở lưu trú du lịch; trong đó có 01 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao (Khách sạn Dầu khí Thái Bình tại TP. Thái Bình với quy mô trên 400 phòng), 04 khách sạn 2 sao và 01 khách sạn 1 sao. Tại huyện Kiến Xương có khoảng 7 khách sạn (100 phòng) và huyện Đông Hưng có khoảng 3 khách sạn (90 phòng).

4. Khóa luận chỉ ra những hạn chế chính nào trong thực trạng khai thác du lịch tại chùa Keo?
Hoạt động khai thác tại chùa Keo còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ, công tác quản lý tài nguyên của chính quyền địa phương chưa chặt chẽ gây lãng phí tài nguyên, chất lượng dịch vụ chưa cao và mức đóng góp kinh tế cho địa phương chưa tương xứng với tiềm năng di tích.

5. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược nào cho di tích chùa Keo?
Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Bảo tồn di tích gắn liền với điều tiết hoạt động du lịch; (2) Xây dựng hình ảnh và định vị thương hiệu điểm đến chùa Keo; (3) Kết hợp liên kết tuyến điểm với du lịch sinh thái (Cồn Vành, Cồn Thủ) và du lịch làng nghề truyền thống (Đồng Xâm, Bách Thuận).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và phân tích toàn diện tiềm năng giá trị của di tích lịch sử - kiến trúc chùa Keo trong bức tranh tổng thể tài nguyên du lịch tỉnh Thái Bình. Thông qua việc phân tích thực trạng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật và những bất cập trong quản lý điểm đến giai đoạn 2012–2014, tác giả đã chỉ rõ khoảng cách giữa tiềm năng và hiệu quả khai thác thực tế. Hệ thống 3 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần định hướng khai thác bền vững di tích chùa Keo, vừa bảo tồn giá trị di sản cổ truyền vừa thúc đẩy kinh tế du lịch địa phương phát triển.