Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ĐỊNH TỘI DANH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Khái niệm và cơ sở pháp lý của định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trong một xã hội, tình hình tội phạm luôn luôn tồn tại và thay đổi theo từng thời kì cả về nội dung và hình thức. Tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, các hoạt động tội phạm luôn đi ngược lại với lợi ích xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong khoa học pháp lý hình sự, khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm được nghiên cứu.
Từ xưa đến nay, các nhà khoa học đã phải tốn rất nhiều công sức để nghiên cứu về tội phạm. Từ đó cũng có nhiều quan điểm và định nghĩa về tội phạm khác nhau.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”. Như vây, về mặt khoa học các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; tội phạm được quy định trong BLHS; tội phạm do người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện; người thực hiện hành vi phạm tội một cách có lỗi (cố ý hoặc vô ý) và tội phạm xâm phạm đến một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Theo BLHS năm 2015 (khoản 1 Điều 8 BLHS) khái niệm tội phạm: “Là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân 6 phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Từ đó, quy định về tội phạm nêu trên có thể coi là quy định có tính khoa học, thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm. Nội hàm của khái niệm tội phạm có các dấu hiệu cơ bản làm căn cứ để phân biệt tội phạm với những hành vi không phải là tội phạm. Bên cạnh đó khi nghiên cứu về định tội danh tôi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, ta cần làm rõ một số nội dung về mặt lý luận đó là khái niệm định tội danh.TSKH Lê Văn Cảm quan niệm định tội danh là quá trình áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự: Dưới góc độ khoa học, định tội danh có thể được hiểu là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ tài liệu thu thập và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật. Võ Khánh Vinh thì định tội danh chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự: Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [40, tr.
Trong khi đó, PGS. Dương Tuyết Miên định nghĩa bao gồm cả các chủ thể định tội danh và nêu: 7 Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện; v. Như vậy, mặc dù được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhưng về cơ bản các nhà khoa học đều thống nhất ở một số khía cạnh dưới đây: Một là, định tội danh là hoạt động nhận thức có tính logic của con người đối về việc có sự phù hợp hay không phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi xảy ra ngoài thực tiễn khách quan với quy định của pháp luật hình sự về một tội phạm cụ thể. Hai là, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nếu được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật.
Cũng có tác giả cho rằng bao gồm cả hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định tội danh theo nghĩa rộng. Ba là, định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong trường hợp định tội danh chính thức). Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo tác giả khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định, cũng như các quy định khác trong Bộ luật hình sự có liên quan, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của 8 người phạm tội. Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích là hành vi cố ý làm cho người khác được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tội phạm này xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người. Theo đó: “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác, gây thiệt hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe của người khác trong các trường hợp luật định. 96 - 97] Trước hết, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một tội phạm cụ thể, nó có đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm, đó là: *Tính nguy hiểm cho xã hội: Được biểu hiện ở chỗ người phạm tội có hành vi tác động trái pháp luật trên cơ thể người khác, làm tổn thương một bộ phận hay toàn bộ cơ thể của người khác như: làm gẫy tay, gẫy chân, cụt tay, cụt chân, mù mắt… dẫn đến việc người bị hại bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khỏe ở một tỷ lệ nhất định. * Tính có lỗi: Đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, theo quy định của BLHS thể hiện lỗi của người thực hiện tội phạm là cố ý.
Tức người phạm tội nhận thức rõ hành vi tác động trái pháp luật lên cơ thể người khác là hành vi có thể gây thương tích và mong muốn gây thương tích cho nạn nhân hoặc chấp nhận để cho hậu quả nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại sức khỏe xảy ra. Người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực hiện hành vi với hình thức lỗi cố ý. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do lỗi cố ý là dấu hiệu bắt buộc của loại tội phạm này. * Tính trái pháp luật hình sự: Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thể hiện ở việc người phạm tội thực hiện những hành vi bị Luật hình sự ngăn cấm và bảo vệ tại Điều 134 BLHS.
* Tính chịu hình phạt: Là dấu hiệu cơ bản của loại tội phạm, chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt theo quy định của BLHS. Đối với 9 tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, các hình phạt được quy định trong BLHS để áp dụng đối với người thực hiện tội phạm này là: cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân. Cũng từ khái niệm trên, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được hiểu là: Hành vi phạm tội là sự tác động đến thân thể người khác một cách trái pháp luật, có khả năng gây ra những thương tích nhất định, làm tổn hại đến sức khỏe của con người. Những hành vi này có thể được thực hiện với công cụ, phương tiện phạm tội (đâm, chém, bắn, đốt, ném đá…) hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội (đấm, đá, đạp, xô đẩy, cắn…) hoặc có thể thông qua súc vật (thả chó cắn, bò đá…) hay sử dụng cơ thể người khác (nắm chân người khác làm côn đánh, ôm người này ném người khác…).
* Gây thương tích cho người khác: Là hành vi mà người phạm tội tác động trái pháp luật lên thân thể của người khác, làm cho người đó có những thương tích nhất định.