Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội Theo Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp lý.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2014

87
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI

1.1. Khái niệm và các đặc điểm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

1.2. Khái niệm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

1.3. Một số đặc điểm của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

1.4. Ý nghĩa của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

1.5. Một số quy định tương ứng trong luật hình sự của một số nước trên thế giới

1.6. Trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

1.6.1. Trách nhiệm hình sự của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với tội định phạm

1.6.2. Trách nhiệm hình sự của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với tội phạm khác

1.6.3. Trách nhiệm hình sự của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong trường hợp đồng phạm

2. CHƯƠNG 2: TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Các dấu hiệu đặc trưng của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

2.2. Những điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

2.2.1. Điều kiện thuộc về ý thức chủ quan của người phạm tội trong tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

2.2.2. Điều kiện về thời điểm phạm tội

2.3. Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

2.3.1. Khái quát chung về đồng phạm

2.3.2. Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

3.2. Những phương hướng cơ bản của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

3.3. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Phạm Tội 55 ký tự

Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một trong những chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Nó thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước, khuyến khích người phạm tội từ bỏ hành vi. Chế định này được pháp luật hình sự ghi nhận từ rất sớm, lần đầu tiên được quy định trong pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967. Điều 20 Pháp lệnh này quy định: “…có âm mưu phạm tội nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm…” [29]. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được pháp luật hình sự ghi nhận từ rất sớm.

1.1. Lịch Sử Hình Thành Chế Định Tự Ý Nửa Chừng

Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội lần đầu tiên được quy định trong pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967. Điều 20 Pháp lệnh này quy định: “…có âm mưu phạm tội nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm…” [29]. Ở đây tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được gọi là tự nguyện không thực hiện âm mưu phạm tội. Các văn bản pháp quy, chưa được quy định một cách tập trung thống nhất. Mỗi văn bản chỉ quy định cho từng trường hợp phạm tội riêng biệt mà chưa có quy định chung cho tất cả các loại tội, dẫn đến gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn.

1.2. Ý Nghĩa Của Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Tội Phạm

Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Nó tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Đồng thời, nó khuyến khích người đang chuẩn bị phạm tội hoặc đã bắt tay vào thực hiện tội phạm sớm dừng lại để được hưởng chính sách khoan hồng. Từ đó góp phần bảo vệ hơn nữa các quan hệ xã hội là khách thể của luật hình sự.

II. Cách Xác Định Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Phạm Tội 58 ký tự

Khi xem xét khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 BLHS thì cần phải phân biệt cụm từ “không thực hiện tội phạm đến cùng” với cụm từ “không thực hiện được tội phạm đến cùng” quy định tại Điều 18 BLHS về phạm tội chưa đạt. Theo Điều 19 BLHS thì một người đang thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc đang thực hiện các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm đã chủ động chấm dứt hành vi phạm tội của mình, mặc dù biết thực tế khách quan không có sự cản trở nào.

2.1. Phân Biệt Với Phạm Tội Chưa Đạt Điều 18 BLHS

Theo Điều 19 BLHS thì một người đang thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc đang thực hiện các hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm đã chủ động chấm dứt hành vi phạm tội của mình, mặc dù biết thực tế khách quan không có sự cản trở nào. Khác với cách quy định trên Điều 18 BLHS quy định trường hợp một người đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được tội phạm đến cùng là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn.

2.2. Thời Điểm Chấm Dứt Hành Vi Phạm Tội

“Không thực hiện tội phạm đến cùng” trong trường hợp này chỉ thời điểm chấm dứt hành vi phạm tội là giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Khoa học luật hình sự phân chia phạm tội chưa đạt thành hai trường hợp: phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Vậy không thực hiện tội phạm đến cùng ở hai Điều 18 và 19 BLHS khác nhau ở chỗ: về thời điểm chấm dứt việc phạm tội tại Điều 18 là muộn hơn, người phạm tội có thể đã thực hiện đầy đủ các hành vi cho là cần thết để gây ra hậu quả,...

III. Điều Kiện Để Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Tội Phạm 59 ký tự

Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, cần đáp ứng các điều kiện nhất định. Các điều kiện này liên quan đến ý chí chủ quan của người phạm tội và thời điểm chấm dứt hành vi. Việc xác định đúng các điều kiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật và đảm bảo quyền lợi của người phạm tội. Điều kiện về ý thức chủ quan của người phạm tội trong tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

3.1. Điều Kiện Về Ý Thức Chủ Quan Của Người Phạm Tội

Điều kiện về ý thức chủ quan của người phạm tội là yếu tố quan trọng nhất để xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Người phạm tội phải tự nguyện, dứt khoát từ bỏ ý định phạm tội đến cùng. Sự từ bỏ này phải xuất phát từ ý chí chủ quan của người phạm tội, không bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài.

3.2. Điều Kiện Về Thời Điểm Phạm Tội

Thời điểm chấm dứt hành vi phạm tội phải là giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt. Nếu tội phạm đã hoàn thành, thì không thể coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Việc xác định đúng thời điểm chấm dứt hành vi phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

3.3. Tự Nguyện Chấm Dứt Hành Vi Phạm Tội

Người phạm tội phải tự nguyện, dứt khoát từ bỏ ý định phạm tội đến cùng. Sự từ bỏ này phải xuất phát từ ý chí chủ quan của người phạm tội, không bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài. Động cơ thúc đẩy can phạm có quyết định chấm dứt việc phạm tội theo bản tổng kết này là “thấy nạn nhân đã bị thương tích”, tức là có thể can phạm thấy thương nạn nhân hoặc khi thấy nạn nhân bị thương nên đã sợ hãi, sợ bị pháp luật trừng trị…

IV. Trách Nhiệm Hình Sự Khi Tự Ý Nửa Chừng Phạm Tội 60 ký tự

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể được miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự. Mức độ miễn giảm phụ thuộc vào hành vi thực tế đã gây ra và mức độ ăn năn hối cải của người phạm tội. Việc xác định đúng trách nhiệm hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo công bằng và răn đe.

4.1. Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Trong Trường Hợp Nào

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu hành vi của họ chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng. Việc miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

4.2. Giảm Nhẹ Trách Nhiệm Hình Sự Khi Nào

Nếu hành vi của người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đã gây ra hậu quả nhất định, họ có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào mức độ hậu quả và thái độ ăn năn hối cải của người phạm tội.

4.3. Hậu Quả Pháp Lý Của Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Phạm Tội

Hậu quả pháp lý của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là người phạm tội có thể được miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự. Điều này thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước, khuyến khích người phạm tội từ bỏ hành vi phạm tội.

V. Vấn Đề Tự Ý Nửa Chừng Trong Đồng Phạm Phân Tích 57 ký tự

Trong trường hợp đồng phạm, việc xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trở nên phức tạp hơn. Cần xem xét vai trò của từng người trong vụ án và hành vi cụ thể của họ. Việc áp dụng chế định này trong đồng phạm cần được xem xét cẩn thận để đảm bảo công bằng.

5.1. Xác Định Vai Trò Của Từng Người Trong Vụ Án

Để xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm, cần xác định rõ vai trò của từng người trong vụ án. Ai là người thực hành, ai là người xúi giục, ai là người giúp sức? Việc xác định đúng vai trò có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật.

5.2. Hành Vi Cụ Thể Của Từng Người Đồng Phạm

Cần xem xét hành vi cụ thể của từng người đồng phạm. Ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội, ai là người đã ngăn chặn hậu quả xảy ra? Việc xem xét hành vi cụ thể giúp xác định đúng trách nhiệm hình sự của từng người.

5.3. Khó Khăn Khi Áp Dụng Trong Trường Hợp Đồng Phạm

Việc áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm gặp nhiều khó khăn. Cần xem xét cẩn thận các yếu tố liên quan để đảm bảo công bằng và tránh bỏ lọt tội phạm.

VI. Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Định Về Tự Ý Nửa Chừng 58 ký tự

Để nâng cao hiệu quả áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật. Cần có hướng dẫn cụ thể về các điều kiện áp dụng và cách xác định trách nhiệm hình sự trong từng trường hợp cụ thể. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân.

6.1. Hướng Dẫn Cụ Thể Về Điều Kiện Áp Dụng

Cần có hướng dẫn cụ thể về các điều kiện áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Hướng dẫn này cần làm rõ các yếu tố cấu thành và cách xác định từng yếu tố.

6.2. Tăng Cường Tuyên Truyền Phổ Biến Pháp Luật

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Việc này giúp nâng cao nhận thức của người dân và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật.

6.3. Nghiên Cứu Thêm Về Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Phạm Tội

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội để làm rõ hơn bản chất và ý nghĩa của chế định này. Các nghiên cứu này cần tập trung vào các vấn đề thực tiễn và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 1. Khái niệm và các đặc điểm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 1. Khái niệm của tự ý nửa chừng chấm dứt viê ̣c pham ̣ tôị Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một trong các chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Nó thể hiện chính sách hình sự của Nhà nƣớc là: “khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [19 , Điều 3].

Đồng thời, chế định này cũng khuyến khích những ngƣời đang chuẩn bị phạm tội hoặc đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm dừng hành vi phạm tội càng sớm càng tốt, từ đó loại bỏ hoặc hạn chế những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Với ý nghĩa quan trọng nhƣ vậy, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc pháp luật hình sự ghi nhận từ rất sớm. Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội lần đầu tiên đƣợc quy định trong pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967. Điều 20 Pháp lệnh này quy định: “…có âm mưu phạm tội nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm…” [29].

Ở đây tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc gọi là tự nguyện không thực hiện âm mƣu phạm tội. Tại bản tổng kết số 452 - HS2 ngày 10/08/1970 về thực tiễn xét xử loại tội giết ngƣời Tòa án nhân dân tối cao đã hƣớng dẫn: Trƣờng hợp mặc dù đã rõ ràng can phạm có ý định giết ngƣời hoặc khi không xác định đƣợc rõ ràng ý thức của mình nhƣng nếu đƣợc nửa chừng hành động can phạm thấy nạn nhân đã bị thƣơng 5 z tích, chủ động tự mình chấm dứt tấn công, tuy biết rằng còn có thể hành động, chỉ nên định là tội cố ý gây thƣơng tích, không nên định là tội giết ngƣời chƣa đạt [23]. Theo bản tổng kết trên thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trƣờng hợp can phạm đã tấn công, gây ra thƣơng tích cho nạn nhân nhƣng đã chủ động chấm dứt hành vi đó. Sự chấm dứt trên hoàn toàn do ý thức chủ quan của can phạm, mặc dù biết “còn có thể hành động” tiếp.

Động cơ thúc đẩy can phạm có quyết định chấm dứt việc phạm tội theo bản tổng kết này là “thấy nạn nhân đã bị thương tích”, tức là có thể can phạm thấy thƣơng nạn nhân hoặc khi thấy nạn nhân bị thƣơng nên đã sợ hãi, sợ bị pháp luật trừng trị… Từ sự phân tích ở trên ta thấy rằng: Ngƣời có ý định giết ngƣời và đang thực hiện ý định đó nhƣng đã chủ động chấm dứt hành động một cách dứt khoát dù biết rằng vẫn có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ đƣợc miễn trách nhiệm hình sự về tội giết ngƣời mà không đòi hỏi động cơ dừng lại phải là ăn năn hối cải. Tại bản báo cáo tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong công tác xét xử về hình sự năm 1976 cũng có quy định: Có trƣờng hợp ngăn chặn hậu quả thiệt hại của một tội đã bắt đầu nhƣng chƣa kết thúc tức là trƣờng hợp tự nguyện nửa chừng chấm dứt tội phạm. Nhiều Tòa án đã giải quyết đúng đắn trƣờng hợp này, không xử ngƣời có hành vi phạm tội mà họ đã đình chỉ thực hiện mà chỉ xét TNHS của họ đối với hậu quả thực tế mà họ đã gây ra [25]. Theo bản tổng kết trên thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trƣờng hợp một ngƣời đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, đã gây ra hậu quả nhất định nhƣng đã ngăn chặn đƣợc hậu quả thiệt hại trƣớc khi tội phạm kết thúc.

Ở đây thời điểm đƣợc coi là “tự nguyện nửa chừng chấm dứt tội 6 z phạm” là thời điểm tội phạm chƣa kết thúc chứ không phải là phạm tội chƣa đạt chƣa hoàn thành. Nhƣ vậy, trong các văn bản này chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc quy định tản mạn trong các văn bản pháp quy, chƣa đƣợc quy định một cách tập trung thống nhất. Mỗi văn bản chỉ quy định cho từng trƣờng hợp phạm tội riêng biệt mà chƣa có quy định chung cho tất cả các loại tội, dẫn đến gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn. Mặt khác, các văn bản này cũng chƣa có sự nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ.

Cụ thể là: Tại Điều 20 Pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967 gọi là “tự nguyện”, tại bản tổng kết số 452 – HS2 năm 1970 gọi là “tự mình chấm dứt” và tại bản tổng kết thì gọi là “đình chỉ”. Điều này cho thấy mỗi thuật ngữ trên mới chỉ thể hiện đƣợc một phần bản chất của chế định này. Vì vậy, đòi hỏi phải tìm ra một thuật ngữ mang tính khái quát hơn, thể hiện đƣợc đầy đủ bản chất của chế định. Tuy nhiên qua mỗi lần pháp điển thì khái niệm “tự ý nửa chừng” ngày càng đƣợc thể hiện rõ ràng và đầy đủ hơn.

Riêng tại bản tổng kết năm 1976 thì thời điểm đƣợc coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là muộn hơn so với BLHS. Nó thừa nhận cả trƣờng hợp ngƣời phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cần thiết, đã gây ra hậu quả thiệt hại, nhƣng lại kịp thời ngăn chặn đƣợc thiệt hại thì vẫn đƣợc coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Sau khi giành đƣợc độc lập, đất nƣớc ta có sự chuyển mình lớn về mọi mặt, kéo theo đó là tình hình trật tự xã hội ngày càng trở nên phức tạp, các tệ nạn xã hội ngày càng tinh vi và trở thành vấn đề nóng bỏng. Trƣớc thực trạng trên và để đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, BLHS đầu tiên của nƣớc ta BLHS năm 1985 đã quy định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định riêng tại Điều 16, theo đó tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc hiểu là: “Tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản” và trong quá trình áp dụng nó đã đƣợc Hội đồng Thẩm 7 z phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn bổ sung để áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự trong Nghị quyết số 02-86/HĐTP ngày 05/01/1986 và Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/04/1989.

Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai, Bộ luật hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc quy định tại Điều 19 của Bộ luật và về cơ bản nó không có gì thay đổi so với quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985. Việc quy định chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong BLHS đã góp phần đƣa chế định này lên ngang tầm với ý nghĩa của nó, đồng thời tạo nên sự thống nhất chung về chế định này cả ở phƣơng diện lý luận và thực tiễn áp dụng. Khi chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc quy định trong BLHS thì những vấn đề nêu trên đã phần nào đƣợc giải quyết. Về vấn đề này tác giả Kim Dung đánh giá: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một khái niệm pháp lý mà trƣớc đây chúng ta quen gọi là “tự nguyện đình chỉ”, đó là cách gọi tắt chứ bản thân nó chƣa phản ánh cái gì cả.

Đáng ra phải gọi là “tự ý đình chỉ việc thực hiện tội phạm”, nhƣng việc gọi nhƣ vậy vẫn chƣa rõ ràng, chƣa nói lên đƣợc can phạm tự ý đình chỉ ở giai đoạn phạm tội nào. Vì vậy Bộ luật hình sự nêu khái niệm “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” là hoàn toàn chính xác và đầy đủ [9, tr. Bên cạnh đó khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong khoa học luật hình sự còn có nhiều quan điểm khác nhau. Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Điệp, Vũ Mạnh Thông thì “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là sự tự kiềm chế của một người để không thực hiện đến cùng hành vi phạm tội mà họ đã bắt đầu mặc dù họ biết là có khả năng làm việc đó và không có gì ngăn cản họ” [10, tr.

8 z Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập I trƣờng đại học Luật Hà Nội năm 2010: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tiếp tội phạm khi tội phạm chưa hoàn thành, tuy không có gì ngăn cản” [12, tr. Theo tác giả Trịnh Tiến Việt thì: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một trong các chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, có ý nghĩa nhằm động viên, khuyến khích ngƣời phạm tội từ bỏ dứt khoát và vĩnh viễn ý định thực hiện tội phạm đến cùng của mình, qua đó hạn chế những thiệt hại (hậu quả) nguy hiểm có thể gây ra cho các quan hệ xã hội [30, tr. Theo tác giả Lê Cảm: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là khi người phạm tội mặc dù có đầy đủ điều kiện khách quan để thực hiện tội phạm đến cùng, nhưng đã tự mình đình chỉ hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc hành vi cố ý để thực hiện tội phạm tuy không có gì ngăn cản” [6, tr. Nghiên cứu các quan điểm trên về khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chúng tôi thấy tuy các quan điểm này có sự khác nhau nhất định nhƣng chúng đều thể hiện đƣợc bản chất của chế định là: các điều kiện chủ quan và khách quan là ngƣời phạm tội đã tự nguyện chấm dứt hành vi phạm tội theo ý chí chủ quan của mình mặc dù điều kiện khách quan không có gì cản trở, thời điểm chấm dứt hành vi phạm tội là ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chƣa đạt chƣa hoàn thành.

Khi xem xét khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 BLHS thì cần phải phân biệt cụm từ “không thực hiện tội phạm đến cùng” với cụm từ “không thực hiện được tội phạm đến cùng” quy định tại Điều 18 BLHS về phạm tội chƣa đạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội Trong Luật Hình Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, một vấn đề quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Tài liệu phân tích các yếu tố pháp lý liên quan, cũng như những tác động của việc áp dụng quy định này trong thực tiễn. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức mà luật hình sự xử lý các tình huống khi một cá nhân quyết định dừng hành vi phạm tội trước khi bị phát hiện.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh khác của luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Chế định án treo trong luật hình sự việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, nơi bàn luận về các quy định liên quan đến án treo và ứng dụng của nó trong thực tiễn. Ngoài ra, tài liệu Dấu hiệu định tội thuộc mặt chủ quan của tội phạm trong luật hình sự việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố cấu thành tội phạm. Cuối cùng, tài liệu Các tình tiết tăng nặng thuộc mặt chủ quan của tội giết người sẽ cung cấp thông tin bổ ích về các tình tiết tăng nặng trong các vụ án giết người, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về luật hình sự Việt Nam.