Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ Ý NỬA CHỪNG CHẤM DỨT VIỆC PHẠM TỘI 1. Khái niệm và các đặc điểm của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 1. Khái niệm của tự ý nửa chừng chấm dứt viê ̣c pham ̣ tôị Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một trong các chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam. Nó thể hiện chính sách hình sự của Nhà nƣớc là: “khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra” [19 , Điều 3].
Đồng thời, chế định này cũng khuyến khích những ngƣời đang chuẩn bị phạm tội hoặc đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm dừng hành vi phạm tội càng sớm càng tốt, từ đó loại bỏ hoặc hạn chế những hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Với ý nghĩa quan trọng nhƣ vậy, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc pháp luật hình sự ghi nhận từ rất sớm. Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội lần đầu tiên đƣợc quy định trong pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967. Điều 20 Pháp lệnh này quy định: “…có âm mưu phạm tội nhưng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm…” [29].
Ở đây tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc gọi là tự nguyện không thực hiện âm mƣu phạm tội. Tại bản tổng kết số 452 - HS2 ngày 10/08/1970 về thực tiễn xét xử loại tội giết ngƣời Tòa án nhân dân tối cao đã hƣớng dẫn: Trƣờng hợp mặc dù đã rõ ràng can phạm có ý định giết ngƣời hoặc khi không xác định đƣợc rõ ràng ý thức của mình nhƣng nếu đƣợc nửa chừng hành động can phạm thấy nạn nhân đã bị thƣơng 5 z tích, chủ động tự mình chấm dứt tấn công, tuy biết rằng còn có thể hành động, chỉ nên định là tội cố ý gây thƣơng tích, không nên định là tội giết ngƣời chƣa đạt [23]. Theo bản tổng kết trên thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trƣờng hợp can phạm đã tấn công, gây ra thƣơng tích cho nạn nhân nhƣng đã chủ động chấm dứt hành vi đó. Sự chấm dứt trên hoàn toàn do ý thức chủ quan của can phạm, mặc dù biết “còn có thể hành động” tiếp.
Động cơ thúc đẩy can phạm có quyết định chấm dứt việc phạm tội theo bản tổng kết này là “thấy nạn nhân đã bị thương tích”, tức là có thể can phạm thấy thƣơng nạn nhân hoặc khi thấy nạn nhân bị thƣơng nên đã sợ hãi, sợ bị pháp luật trừng trị… Từ sự phân tích ở trên ta thấy rằng: Ngƣời có ý định giết ngƣời và đang thực hiện ý định đó nhƣng đã chủ động chấm dứt hành động một cách dứt khoát dù biết rằng vẫn có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ đƣợc miễn trách nhiệm hình sự về tội giết ngƣời mà không đòi hỏi động cơ dừng lại phải là ăn năn hối cải. Tại bản báo cáo tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong công tác xét xử về hình sự năm 1976 cũng có quy định: Có trƣờng hợp ngăn chặn hậu quả thiệt hại của một tội đã bắt đầu nhƣng chƣa kết thúc tức là trƣờng hợp tự nguyện nửa chừng chấm dứt tội phạm. Nhiều Tòa án đã giải quyết đúng đắn trƣờng hợp này, không xử ngƣời có hành vi phạm tội mà họ đã đình chỉ thực hiện mà chỉ xét TNHS của họ đối với hậu quả thực tế mà họ đã gây ra [25]. Theo bản tổng kết trên thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trƣờng hợp một ngƣời đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, đã gây ra hậu quả nhất định nhƣng đã ngăn chặn đƣợc hậu quả thiệt hại trƣớc khi tội phạm kết thúc.
Ở đây thời điểm đƣợc coi là “tự nguyện nửa chừng chấm dứt tội 6 z phạm” là thời điểm tội phạm chƣa kết thúc chứ không phải là phạm tội chƣa đạt chƣa hoàn thành. Nhƣ vậy, trong các văn bản này chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc quy định tản mạn trong các văn bản pháp quy, chƣa đƣợc quy định một cách tập trung thống nhất. Mỗi văn bản chỉ quy định cho từng trƣờng hợp phạm tội riêng biệt mà chƣa có quy định chung cho tất cả các loại tội, dẫn đến gây khó khăn cho việc áp dụng trong thực tiễn. Mặt khác, các văn bản này cũng chƣa có sự nhất quán trong việc sử dụng thuật ngữ.
Cụ thể là: Tại Điều 20 Pháp lệnh Trừng trị các tội phản cách mạng năm 1967 gọi là “tự nguyện”, tại bản tổng kết số 452 – HS2 năm 1970 gọi là “tự mình chấm dứt” và tại bản tổng kết thì gọi là “đình chỉ”. Điều này cho thấy mỗi thuật ngữ trên mới chỉ thể hiện đƣợc một phần bản chất của chế định này. Vì vậy, đòi hỏi phải tìm ra một thuật ngữ mang tính khái quát hơn, thể hiện đƣợc đầy đủ bản chất của chế định. Tuy nhiên qua mỗi lần pháp điển thì khái niệm “tự ý nửa chừng” ngày càng đƣợc thể hiện rõ ràng và đầy đủ hơn.
Riêng tại bản tổng kết năm 1976 thì thời điểm đƣợc coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là muộn hơn so với BLHS. Nó thừa nhận cả trƣờng hợp ngƣời phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cần thiết, đã gây ra hậu quả thiệt hại, nhƣng lại kịp thời ngăn chặn đƣợc thiệt hại thì vẫn đƣợc coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Sau khi giành đƣợc độc lập, đất nƣớc ta có sự chuyển mình lớn về mọi mặt, kéo theo đó là tình hình trật tự xã hội ngày càng trở nên phức tạp, các tệ nạn xã hội ngày càng tinh vi và trở thành vấn đề nóng bỏng. Trƣớc thực trạng trên và để đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, BLHS đầu tiên của nƣớc ta BLHS năm 1985 đã quy định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định riêng tại Điều 16, theo đó tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc hiểu là: “Tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản” và trong quá trình áp dụng nó đã đƣợc Hội đồng Thẩm 7 z phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn bổ sung để áp dụng thống nhất một số quy định của Bộ luật hình sự trong Nghị quyết số 02-86/HĐTP ngày 05/01/1986 và Nghị quyết số 01-89/HĐTP ngày 19/04/1989.
Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai, Bộ luật hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc quy định tại Điều 19 của Bộ luật và về cơ bản nó không có gì thay đổi so với quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985. Việc quy định chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong BLHS đã góp phần đƣa chế định này lên ngang tầm với ý nghĩa của nó, đồng thời tạo nên sự thống nhất chung về chế định này cả ở phƣơng diện lý luận và thực tiễn áp dụng. Khi chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đƣợc quy định trong BLHS thì những vấn đề nêu trên đã phần nào đƣợc giải quyết. Về vấn đề này tác giả Kim Dung đánh giá: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một khái niệm pháp lý mà trƣớc đây chúng ta quen gọi là “tự nguyện đình chỉ”, đó là cách gọi tắt chứ bản thân nó chƣa phản ánh cái gì cả.
Đáng ra phải gọi là “tự ý đình chỉ việc thực hiện tội phạm”, nhƣng việc gọi nhƣ vậy vẫn chƣa rõ ràng, chƣa nói lên đƣợc can phạm tự ý đình chỉ ở giai đoạn phạm tội nào. Vì vậy Bộ luật hình sự nêu khái niệm “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” là hoàn toàn chính xác và đầy đủ [9, tr. Bên cạnh đó khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong khoa học luật hình sự còn có nhiều quan điểm khác nhau. Theo các tác giả Nguyễn Ngọc Điệp, Vũ Mạnh Thông thì “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là sự tự kiềm chế của một người để không thực hiện đến cùng hành vi phạm tội mà họ đã bắt đầu mặc dù họ biết là có khả năng làm việc đó và không có gì ngăn cản họ” [10, tr.
8 z Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập I trƣờng đại học Luật Hà Nội năm 2010: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tiếp tội phạm khi tội phạm chưa hoàn thành, tuy không có gì ngăn cản” [12, tr. Theo tác giả Trịnh Tiến Việt thì: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một trong các chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, có ý nghĩa nhằm động viên, khuyến khích ngƣời phạm tội từ bỏ dứt khoát và vĩnh viễn ý định thực hiện tội phạm đến cùng của mình, qua đó hạn chế những thiệt hại (hậu quả) nguy hiểm có thể gây ra cho các quan hệ xã hội [30, tr. Theo tác giả Lê Cảm: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là khi người phạm tội mặc dù có đầy đủ điều kiện khách quan để thực hiện tội phạm đến cùng, nhưng đã tự mình đình chỉ hành vi chuẩn bị phạm tội hoặc hành vi cố ý để thực hiện tội phạm tuy không có gì ngăn cản” [6, tr. Nghiên cứu các quan điểm trên về khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chúng tôi thấy tuy các quan điểm này có sự khác nhau nhất định nhƣng chúng đều thể hiện đƣợc bản chất của chế định là: các điều kiện chủ quan và khách quan là ngƣời phạm tội đã tự nguyện chấm dứt hành vi phạm tội theo ý chí chủ quan của mình mặc dù điều kiện khách quan không có gì cản trở, thời điểm chấm dứt hành vi phạm tội là ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chƣa đạt chƣa hoàn thành.
Khi xem xét khái niệm tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo Điều 19 BLHS thì cần phải phân biệt cụm từ “không thực hiện tội phạm đến cùng” với cụm từ “không thực hiện được tội phạm đến cùng” quy định tại Điều 18 BLHS về phạm tội chƣa đạt.