đặt vấn đề ngay từ đầu phải đồng thời quan tâm đầu tư cho cả hai khu vực công nghiệp và nông nghiệp, hoặc là ông cũng đồng ý với quan điểm của Ricardo cho rằng một mô hình phát triển phải được bắt đầu từ hiệu xuất nông nghiệp hoặc từ khả năng xuất khẩu sản phẩm công nghiệp để nhập Sinh viên: Nguyễn Công Anh 15 Lớp: Kinh tế phát triển 47AQN Chuyên đề thực tập tốt nghiệp khẩu lương thực. Nhưng Oshima cho rằng quan điểm của trường phái tân cổ điển và hướng thứ hai trong quan điểm của Ricardo là khó thực hiện được nếu không nói là thiếu thực tế trong điều kiện của các nước đang phát triển, ở đây còn thiếu rất nhiều các khả năng nguồn lực, nhất là nguồn lực về vốn đầu tư và lao động có kỹ thuật cao, kỹ năng quản lý và trình độ quan hệ kinh tế quốc tế.Nội dung mô hình hai khu vực Oshima a, Gia đoạn bắt đầu của quá trình tăng trưởng Oshima cho rằng do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, nhất là ở các nước châu Á gió mùa là mang tính thời vụ rất cao, lao động thất nghiệp mang tính thời vụ lại càng trầm trọng hơn khi sản xuất nông nghiệp mang nặng tính chất độc canh, nhỏ lẻ, phân tán. Vì vậy mục tiêu của giai đoạn đầu trong quá trình tăng trưởng là phải giải quyết hiện tượng thất nghiệp thời vụ ở khu vực nông nghiệp. Biện pháp hợp lý nhất để thực hiện mục tiêu này là đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, xen canh, tăng vụ trồng thêm rau, quả, cây lấy củ, mở rộng chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi và đánh bắt cá, trồng cây nông nghiệp.
Hướng phát triển này tỏ ra phù hợp với khả năng vốn, trình độ kỹ thuật của nông nghiệp, nông thôn trong giai đạn này. Do có nhiều việc làm hơn thu nhập ở nông dân bắt đầu tăng lên, họ có thể chi tiêu nhiều hơn cho giống mới, phân hoá học, thuốc trừ sâu và công cụ lao động. b, Giai đoạn hướng tới có việc làm đầy đủ bằng cách đầu tư phát triển đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp. Xuất phát từ mục tiêu hướng tới giải quyết đầy đủ việc làm cho người lao động, quan điểm của Oshima trong giai đoạn này là đầu tư phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và cả dịch vụ theo chiều rộng, cụ thể: tiếp tục thực hiện đa dạng hoá sản xuất cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp, thực hiện sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn, xen canh, tăng vụ, nhằm tạo ra khối luợng nông sản hàng hoá ngày càng lớn.
Phát triển ngành công nghiệp chế biến lương thực thực Sinh viên: Nguyễn Công Anh 16 Lớp: Kinh tế phát triển 47AQN Chuyên đề thực tập tốt nghiệp phẩm, đồ uống, đồ gỗ đồ thủ công mỹ nghệ nhằm tăng cường số luợng việc làm và nâng cao tính hàng hoá; phát triển các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất nông cụ thường, nông cụ cầm tay, nông cụ cải tiến cho nông nghiệp, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, giống và các yếu tố đầu vào khác cho nông nghiệp. Để đảm bảo hiệu quả các loại hình phát triển trên đòi hỏi phải có sự hoạt động đồng bộ từ sản xuất vận chuyển, bán hàng đến các dịch vụ hỗ trợ tài chính tín dụng và các ngành có liên quan khác.Cần thiết phải hình thành các hình thức tổ chức sản xuất mang tính liên kết sản xuất giữa công nghiệp, nông nghiệp và cả dịch vụ dưới dạng các trang trại các tổ hợp sản xuất công – nông nghiệp, nông – công nghiệp – thương mại,… c, Giai đoạn sau khi có việc làm đầy đủ thực hiện phát triển các ngành kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. Quan điểm của Oshima trong giai đoạn này là phải đầu tư phát triển theo chiều sâu trên toàn bộ các ngành kinh tế. Một mặt, trong nông nghiệp cần hướng tới sử dụng máy móc thiết bị thay thế lao động và áp dụng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tăng sản lượng.
Các máy cày gặt đập, phun nước máy bơm, làm cỏ, máy sấy và các phương tiện vận tải cơ giới ngày càng mở rộng và tiết kiệm thời gian cho người lao động trên đồng ruộng. Tại các nông trại có quy mô nhỏ, nông dân thường sử dụng máy móc cơ khí nhỏ chạy bằng động cơ điện. Trong điều kiện đó khu vực nông thôn có khả năng rút bớt lao động để chuyển sang các ngành công nghiệp ở thành phố mà vẫn không làm giảm sản lượng nông nghiệp ở nông thôn. Mặt khác khu vực công nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng thay thế sản phẩm nhập khẩu và hướng về xuất khẩu với sự chuyển dịch dần về cơ cấu sản xuất sản phẩm.
Các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng lao động cao sẽ giảm dần và các ngành sản xuất sản phẩm có dung lượng vốn cao sẽ tăng lên. Sinh viên: Nguyễn Công Anh 17 Lớp: Kinh tế phát triển 47AQN Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3.CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 3.Nhân tố khách quan - Các lợi thế về tự nhiên của đất nước cho phép có thể phát triển ngành sản xuất nào một cách thuận lợi, tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế không những theo chiều rộng mà còn đảm bảo cho tăng trưởng theo chiều sâu nếu có chính sách khai thác và sử dụng hiệu quả. - Đặc điểm văn hoá – xã hội là nhân tố quan trọng có tác động nhiều tới quá trinh phát triển của đát nước. Nhân tố văn hoá – xã hội bao trùm nhiều mặt từ các chi thức phổ thông đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, công nghệ , văn học, lối sống và các ứng sử trong quan hệ giao tiếp,những phong tục tập quán,…Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia.
Ngoài ra, nhu cầu của từng xã hội, thị trường ở mỗi giai đoạn lại là cơ sở để sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu không chỉ về số lượng mà cả chất lượng hàng hóa, từ đó dẫn đến những thay đổi về vị trí, tỷ trọng của các ngành nghề trong nền kinh tế. - Nhân tố kinh tế: + Xu hướng chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và thế giới. Sự biến động của chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, hay một số nước, nhất là các nước lớn sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng hàng hóa trao đổi, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ. buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mình nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và sự phát triển trong động thái chung của thị trường thế giới.
+ Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công lao động diễn ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường rộng lớn được mở ra Sinh viên: Nguyễn Công Anh 18 Lớp: Kinh tế phát triển 47AQN Chuyên đề thực tập tốt nghiệp trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép các nước có khả năng khai thác những thế mạnh của nhau để trao đổi các nguồn lực, vốn, kỹ thuật, hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả. + Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ của công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vực sản xuất góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước vì thông tin nhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh nhanh nhạy, hợp lý hơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất được thay đổi phù hợp hơn với thị trường và lợi ích của từng nước. + Mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của từng quốc gia có tác động quan trọng đến sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế vì mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, tính lịch sử xã hội nhưng lại chịu tác động, chi phối rất lớn bởi mục tiêu của Nhà nước. Nhân tố chủ quan - Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của cơ cấu ngành kinh tế bằng các định hướng phát triển, đầu tư, những chính sách khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằm bảo đảm sự cân đối của nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
- Các thể chế chính trị - xã hội – kinh tế được thừa nhận tác động đến quá trình phát triển đất nước theo khía cạnh tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường xã hội. Thể chế biểu hiện như là một lực lượng đại diện cho ý chí của cộng đồng, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế, chính trị và xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra. Thể chế được thể hiện thông qua các dự kiến mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế xã hội, hệ thống pháp luật, các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện. Sinh viên: Nguyễn Công Anh 19 Lớp: Kinh tế phát triển 47AQN Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4.
SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH 4. Xuất phát từ tình hình, xu hướng chung của khu vực, thế giới. Trong mấy thập kỷ qua, các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương đã tận dụng khá tốt những lợ thế so sánh để phát triển nền kinh tế của mình nên đã đạt tốc độ tăng trưởng khác cao, làm cho khu vực này trở thành khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới. Nhờ đó, đã xuất hiện những nước công nghiệp hoá mới, có những nước đã đứng vào hàng ngũ các nước có tốc độ tăng trưởng cao.
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế ở các nước này giá nhân công ngày càng tăng đã làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra bởi giá thành tăng. Các nước này vì thế phải tìm cách chuyển một phần cách lĩnh vực sản xuất khó cạnh tranh sang các nước khác dưới hình thức đầu tư, chuyển giao công nghệ. Các nước kém phát triển hơn lại có nhu cầu tiếp nhận các công nghệ có trình độ thấp để từng bước tham gia vào thị trường thế giới, tạo ra cơ may, tại điều chính hành vi và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị t rường thế giới.