Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giữ vai trò then chốt đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như từng địa phương. Cơ cấu ngành phản ánh trực tiếp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội và mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật. Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực cạnh tranh.

Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008 đã có sự thay đổi lớn về không gian kinh tế, tài nguyên tự nhiên và nguồn lực xã hội. Với quy mô diện tích và dân số gia tăng đáng kể, các mô hình phát triển cũ không còn hoàn toàn thích ứng với bối cảnh mới. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đòi hỏi phải dựa trên đường lối của Đảng, Nhà nước, đồng thời khai thác triệt để lợi thế so sánh của Thủ đô trong mối tương quan vùng và quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề được xác định cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và các mô hình lý thuyết phát triển liên quan.
  2. Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2005–2007 (kết hợp các mốc phát triển từ thập niên 1990).
  3. Đánh giá thành tựu, tồn tại và đề xuất phương hướng, mục tiêu cùng các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội đến năm 2020.
  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu ngành kinh tế và quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn Thủ đô.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài thực hiện trên địa bàn Thành phố Hà Nội (bao gồm bối cảnh mở rộng địa giới hành chính); về thời gian, số liệu thực trạng tập trung phân tích giai đoạn 2005–2007, định hướng và mục tiêu hướng tới giai đoạn 2010–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chuyên đề vận dụng hệ thống lý luận của kinh tế học phát triển để làm rõ bản chất và quy luật vận động của cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế được định nghĩa là một tổng thể cấu thành bởi các yếu tố của nền kinh tế quốc dân, có mối liên hệ tương tác hữu cơ cả về số lượng và chất lượng trong điều kiện không gian, thời gian nhất định. Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế gồm: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế được phân chia thành 3 khu vực chính: Khu vực I (nông – lâm – thủy sản), Khu vực II (công nghiệp – xây dựng), Khu vực III (dịch vụ).

Tác giả đi sâu tổng hợp và so sánh ba mô hình lý thuyết kinh điển về chuyển dịch cơ cấu kinh tế hai khu vực:

  • Mô hình hai khu vực của W. Arthur Lewis (dựa trên nền tảng của David Ricardo): Giả định khu vực nông nghiệp có lao động dư thừa với sản phẩm biên bằng 0; tiền công ở nông nghiệp là mức tiền công tối thiểu/đủ sống (tương đương sản phẩm trung bình). Khu vực công nghiệp thu hút lao động nông thôn bằng cách trả mức tiền công cao hơn khoảng 30%. Tăng trưởng kinh tế được quyết định bởi khả năng tích lũy vốn và tái đầu tư của khu vực công nghiệp.
  • Mô hình hai khu vực của trường phái Tân cổ điển: Khẳng định đất đai có thể cải tạo nhờ khoa học kỹ thuật nên sản phẩm biên của lao động nông nghiệp luôn lớn hơn 0. Do đó, việc rút lao động nông nghiệp sẽ làm tăng giá nông sản và tạo áp lực tăng lương công nghiệp. Trường phái này chủ trương phải đầu tư cho nông nghiệp ngay từ đầu để tăng năng suất, đồng thời đầu tư công nghiệp theo chiều sâu và phát triển hàng xuất khẩu.
  • Mô hình hai khu vực của Harry T. Oshima: Điều chỉnh cho phù hợp với nền nông nghiệp lúa nước châu Á có tính thời vụ cao. Quá trình phát triển trải qua 3 giai đoạn: (1) Giải quyết thất nghiệp thời vụ ở nông thôn bằng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi; (2) Hướng tới việc làm đầy đủ bằng cách phát triển đồng thời nông nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ hỗ trợ; (3) Đầu tư phát triển theo chiều sâu, cơ giới hóa nông nghiệp và chuyển dịch công nghiệp sang các ngành thâm dụng vốn.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp dữ liệu chuỗi thời gian, phương pháp phân tích logic kết hợp lịch sử. Để lượng hóa tốc độ và mức độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa hai thời điểm $t_0$ và $t_1$, tác giả giới thiệu phương pháp vector góc $\cos \varphi$:

$$\cos \varphi = \frac{\sum_{i=1}^n S_i(t_0) S_i(t_1)}{\sqrt{\sum_{i=1}^n S_i^2(t_0) \cdot \sum_{i=1}^n S_i^2(t_1)}}$$

Trong đó: $S_i(t)$ là tỷ trọng ngành $i$ tại thời điểm $t$; góc $\varphi$ thể hiện sự khác biệt giữa hai vector cơ cấu ($0 \le \varphi \le 90^\circ$). Tỷ số $\varphi / 90^\circ$ phản ánh tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu.

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Niên giám thống kê Thành phố Hà Nội do Cục Thống kê Thành phố Hà Nội phát hành các năm 2005, 2006, 2007 và các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội liên quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Sự cần thiết của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Hà Nội

Chương 1 thiết lập khung cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế và làm rõ các tiêu chí đánh giá quá trình chuyển dịch bao gồm: tốc độ chuyển dịch, tính hợp lý (dựa trên năng suất lao động và quy mô sử dụng đầu vào), tính hiệu quả (môi trường đầu tư, khung pháp lý, ổn định vĩ mô) và tính bền vững (đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và tăng trưởng ổn định dựa vào vốn nhân lực).

Tác giả phân loại các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành thành hai nhóm:

  • Nhân tố khách quan: Lợi thế tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm văn hóa – xã hội; bối cảnh quốc tế, xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại; sự bùng nổ của công nghệ thông tin và quy hoạch phát triển của quốc gia.
  • Nhân tố chủ quan: Thể chế chính trị - kinh tế, hệ thống luật pháp và các chính sách điều tiết gián tiếp của Nhà nước (chính sách đầu tư, định hướng ngành ưu tiên).

Từ các nhân tố trên, sự cần thiết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Hà Nội xuất phát từ hai yêu cầu thực tiễn:

  1. Yêu cầu quốc tế: Tận dụng cơ hội chuyển giao vốn và công nghệ, thích ứng với sự thay đổi của chuỗi sản xuất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tránh nguy cơ trở thành bãi tiếp nhận công nghệ lạc hậu.
  2. Yêu cầu nội tại: Thực hiện mục tiêu đưa Hà Nội cơ bản trở thành thành phố công nghiệp vào năm 2020; nâng cao năng suất lao động xã hội; khai thác tối đa nguồn nhân lực dồi dào với quy mô dân số trên 6 triệu người và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội

1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8/2008, Hà Nội có diện tích tự nhiên đạt 3.324,92 km², quy mô dân số 6,233 triệu người (trong đó dân tộc Kinh chiếm 99,1%; cư dân đô thị chiếm 41,1% và nông thôn chiếm 58,1%). Mật độ dân cư phân bố không đồng đều, đạt đỉnh 35.341 người/km² tại quận Đống Đa, trong khi các huyện Ba Vì, Sóc Sơn, Mỹ Đức dưới 1.000 người/km². Toàn thành phố có khoảng 2,5 triệu người sống dựa vào nông nghiệp và 3,2 triệu người trong độ tuổi lao động.

Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt 31,8 triệu đồng (cao hơn mức 13,4 triệu đồng của cả nước). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 1.681,2 triệu USD với 290 dự án; thành phố có 14 khu công nghiệp, 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp và 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài. Khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp, 22% tổng đầu tư xã hội, hơn 20% GDP và 10% kim ngạch xuất khẩu của thành phố.

2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu tổng thể (2005–2007)

Cơ cấu kinh tế Hà Nội giai đoạn 2005–2007 chuyển dịch đúng hướng theo xu thế CNH-HĐH: tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.

Năm Tổng sản phẩm nội địa (GDP) (Tỷ đồng) Nông – Lâm nghiệp, Thủy sản (%) Công nghiệp – Xây dựng (%) Dịch vụ (%)
2005 76.006 1,6 40,5 57,9
2006 90.929 1,4 41,0 57,6
2007 107.743 1,3 41,0 57,7

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê TP. Hà Nội

3. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các phân ngành

a. Ngành công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp phân theo phân ngành (giá so sánh 1994) cho thấy công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vị thế áp đảo tuyệt đối và liên tục gia tăng tỷ trọng:

Nhóm ngành công nghiệp Tỷ trọng 2005 (%) Tỷ trọng 2007 (%) Giá trị 2005 (Tỷ đồng) Giá trị 2007 (Tỷ đồng)
Khai khoáng 1,01 0,80 421 479
Công nghiệp chế biến, chế tạo 93,26 94,50 38.809 57.410
Sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước 4,60 3,77 1.908 2.292
Cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải 1,13 0,93 475 570

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê TP. Hà Nội

Trong nội bộ ngành chế biến, chế tạo, các ngành đóng góp giá trị lớn và tăng trưởng nhanh gồm: Sản xuất phương tiện vận tải khác (tăng từ 5.848 tỷ lên 9.378 tỷ đồng); Sản xuất thiết bị điện (từ 4.301 tỷ lên 7.617 tỷ đồng); Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính (từ 5.070 tỷ lên 6.737 tỷ đồng); Sản xuất sản phẩm từ kim loại (từ 3.309 tỷ lên 4.925 tỷ đồng); Sản xuất xe có động cơ (từ 2.034 tỷ lên 4.262 tỷ đồng). Các ngành dệt may, da giày, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng duy trì tốc độ mở rộng khá. Tuy nhiên, công nghiệp còn hạn chế do thiết bị công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường, thiếu liên kết vùng về nguyên liệu và chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu.

b. Ngành nông nghiệp

Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2007, trồng trọt cây hàng năm chiếm 45,8%, chăn nuôi chiếm 40,4%, cây lâu năm chiếm 5,5%, dịch vụ nông nghiệp 2,3% và thủy sản 5,5%.

Chỉ tiêu nông nghiệp Đơn vị Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Sản lượng lúa Tấn 189.600 183.903 183.481
Năng suất lúa Tạ/ha 42,1 41,2 42,4
Sản lượng ngô Tấn 26.100 27.795 28.458
Năng suất ngô Tạ/ha 29,6 31,4 32,3
Sản lượng rau Tấn 150.587 153.963 156.421
Năng suất rau Tạ/ha 185,4 194,5 195,8
Đàn trâu Con 11.536 10.242 7.278
Đàn bò Con 47.469 52.345 56.050
Đàn lợn Con 372.147 247.128 349.661
Đàn gia cầm Con 3.390.373 2.896.156 3.435.997

Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê TP. Hà Nội

Ngành chăn nuôi tập trung hình thành các vùng chuyên canh: lợn tại Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm; trâu tại Sóc Sơn, Đông Anh. Tồn tại lớn của nông nghiệp là điểm xuất phát thấp, cơ sở hạ tầng xuống cấp, dịch bệnh diễn biến phức tạp (dịch tai xanh, lở mồm long móng, cúm gia cầm) và liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ còn lỏng lẻo.

c. Ngành dịch vụ
  • Quản lý nhà nước – Hành chính: Cải cách hành chính có bước tiến nhưng lý luận quản lý còn giáo điều, tư duy quản lý còn nặng về kinh nghiệm, thiếu tính ứng dụng thực tiễn.
  • Bưu chính viễn thông: Tổng số máy điện thoại tăng từ 1.337 nghìn máy (2005) lên 1.380 nghìn máy (2007); phát hành báo chí tăng từ 19.057 nghìn tờ lên 25.500 nghìn tờ; tuy nhiên doanh thu giảm nhẹ từ 2.837 tỷ xuống 2.758 tỷ đồng.
  • Thương mại: Tổng mức bán lẻ chuyển dịch rõ nét sang kinh tế tư nhân (chiếm 33,98% năm 2007) và kinh tế cá thể (chiếm 44,75%), trong khi kinh tế nhà nước giảm xuống 11,81%. Xuất khẩu năm 2007 đạt giá trị cao ở nhóm hàng dệt may (715 triệu USD), nông sản (689 triệu USD), xăng dầu (463 triệu USD), điện tử (202 triệu USD), da giày (119 triệu USD).
  • Tài chính – Ngân hàng: Tự túc được khoảng 60–65% nguồn vốn cho vay tại địa phương, tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn.
  • Du lịch: Lượng khách quốc tế tăng từ 1,1 triệu lượt (2005) lên 1,29 triệu lượt (2007); khách nội địa tăng từ 4,25 triệu lên 5,16 triệu lượt; dù vậy cơ sở vật chất còn thiếu đồng bộ và sản phẩm du lịch chưa đa dạng.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của thành phố Hà Nội đến năm 2020

1. Các nhân tố tác động trong giai đoạn mới

Bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội chịu tác động bởi các rào cản kỹ thuật thương mại, quy định an toàn vệ sinh thực phẩm quốc tế khắt khe, hệ thống pháp luật kinh tế trong nước chưa đồng bộ và sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ kinh tế đối ngoại tinh thông nghiệp vụ, ngoại ngữ.

2. Mục tiêu và phương hướng phát triển đến năm 2010 và tầm nhìn 2020

Hà Nội xác định vai trò đô thị hạt nhân trung tâm, đóng góp gần 10% GDP cả nước (năm 2007) và là đầu tàu của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (toàn vùng đóng góp trên 21% GDP cả nước).

Mục tiêu cụ thể đến năm 2010:

  • Chỉ tiêu kinh tế:
    • Nâng tỷ trọng GDP Hà Nội trong tổng GDP cả nước lên khoảng 9,8% vào năm 2010 (năm 2000 đạt 7,3% và năm 2005 đạt 8,2%).
    • Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001–2010 đạt 10–11%/năm.
    • GDP bình quân đầu người năm 2010 tăng gấp 1,5 lần so với năm 2005.
    • Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 2001–2010 đạt 16–18%/năm.
  • Chỉ tiêu xã hội và nhân lực:
    • Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60–65% vào năm 2010.
    • Chuẩn hóa đội ngũ công chức cấp quận, huyện, thành phố vào năm 2005 và hoàn thành chuẩn hóa công chức cấp xã, phường vào năm 2010.
    • Tỷ lệ phổ cập trung học phổ thông toàn thành phố đạt 100% vào năm 2010 (năm 2005 đạt 70%).
    • Nâng cao tuổi thọ trung bình của người dân lên 72–73 tuổi.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Khái quát hóa bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội giai đoạn 2005–2007 với xu thế giảm tỷ trọng nông nghiệp (từ 1,6% xuống 1,3%), duy trì tỷ trọng công nghiệp (41,0%) và dịch vụ (57,7%) trong tổng quy mô GDP 107.743 tỷ đồng năm 2007.
  2. Làm rõ sự chuyển biến nội bộ ngành công nghiệp: Công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành trụ cột tuyệt đối (chiếm 94,5% giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007), trong đó các ngành điện tử, thiết bị điện, phương tiện vận tải và cơ khí kim loại giữ vai trò dẫn dắt tốc độ tăng trưởng.
  3. Nhận diện sự thay đổi trong ngành thương mại và dịch vụ với sự mở rộng mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân, cá thể (chiếm hơn 78% tổng mức bán lẻ) và đà tăng trưởng xuất khẩu vượt 4 tỷ USD năm 2007.

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa toàn diện các lý luận kinh tế phát triển (mô hình Lewis, Tân cổ điển, Harry T. Oshima) và phương pháp vector lượng hóa áp dụng cụ thể vào bài toán cơ cấu ngành của một đô thị đang chuyển đổi.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chi tiết về hiện trạng kinh tế Hà Nội tại thời điểm bước ngoặt sau khi gia nhập WTO và mở rộng địa giới hành chính năm 2008.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thống kê chi tiết của chuyên đề tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2005–2007; các đánh giá tác động sau mốc sáp nhập địa giới hành chính tháng 8/2008 chủ yếu dừng ở mức nhận định khái quát, chưa có chuỗi số liệu định lượng dài hạn sau sáp nhập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, thu thập số liệu giai đoạn 2008–2015 để lượng hóa mức độ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên toàn bộ không gian Hà Nội mở rộng; phân tích sâu tác động của các hiệp định thương mại tự do và chuỗi liên kết kinh tế vùng Thủ đô.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Kinh tế học đô thị khi nghiên cứu về:

  1. Phương pháp luận phân tích cơ cấu ngành kinh tế và cách ứng dụng mô hình kinh tế hai khu vực.
  2. Dữ liệu lịch sử kinh tế Hà Nội giai đoạn tiền và hậu mở rộng địa giới hành chính năm 2008.
  3. Kỹ thuật phân tích bảng số liệu thống kê phân ngành công nghiệp, nông nghiệp và thương mại dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu GDP theo 3 nhóm ngành của Hà Nội giai đoạn 2005–2007 thay đổi như thế nào?
Trong giai đoạn 2005–2007, tỷ trọng nông – lâm nghiệp và thủy sản giảm dần từ 1,6% (2005) xuống 1,4% (2006) và còn 1,3% (2007). Ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 40,5% lên 41,0%. Ngành dịch vụ duy trì ở mức cao và ổn định, dao động từ 57,9% (2005) xuống 57,6% (2006) và đạt 57,7% (2007). Tổng quy mô GDP toàn thành phố tăng từ 76.006 tỷ đồng lên 107.743 tỷ đồng.

2. Tác giả đã vận dụng những mô hình lý thuyết kinh tế hai khu vực nào?
Tác giả đã tổng hợp và phân tích 3 mô hình chính:

  • Mô hình của Arthur Lewis: Tập trung vào giả định lao động dư thừa vô hạn trong nông nghiệp và vai trò tích lũy vốn của công nghiệp.
  • Mô hình của trường phái Tân cổ điển: Bác bỏ giả định lao động dư thừa tuyệt đối, nhấn mạnh sự cần thiết phải đầu tư công nghệ cho nông nghiệp song song với công nghiệp.
  • Mô hình của Harry T. Oshima: Phù hợp với đặc thù sản xuất lúa nước châu Á, nhấn mạnh 3 bước phát triển từ giải quyết thất nghiệp thời vụ đến tạo việc làm đầy đủ và hiện đại hóa theo chiều sâu.

3. Phân ngành nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nội?
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng áp đảo và liên tục tăng, từ 93,26% (năm 2005) lên 93,85% (năm 2006) và đạt 94,50% (năm 2007), tương ứng giá trị sản xuất đạt 57.410 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994). Các ngành khai khoáng, sản xuất phân phối điện/khí đốt và xử lý rác/nước thải đều có xu hướng giảm tỷ trọng.

4. Chuyên đề chỉ ra những điểm nghẽn chính nào trong phát triển công nghiệp Hà Nội giai đoạn này?
Các hạn chế chính bao gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ còn lạc hậu; năng lực cạnh tranh của sản phẩm chưa cao; tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các cụm/khu công nghiệp; trình độ quản lý và tay nghề lao động chưa đáp ứng yêu cầu; mối liên kết kinh tế giữa các cơ sở sản xuất và vùng nguyên liệu còn rời rạc.

5. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phát triển nhân lực của Hà Nội đến năm 2010 được đặt ra như thế nào?
Mục tiêu đến năm 2010 gồm: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 10–11%/năm; đóng góp khoảng 9,8% GDP cả nước; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 16–18%/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60–65%; hoàn thành chuẩn hóa đội ngũ công chức cấp xã, phường; tỷ lệ phổ cập THPT đạt 100% và nâng tuổi thọ trung bình của người dân lên 72–73 tuổi.


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Công Anh đã hệ thống hóa chặt chẽ cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gắn liền với các mô hình phát triển cổ điển và hiện đại. Thông qua hệ thống số liệu thống kê giai đoạn 2005–2007, công trình phản ánh rõ nét thực trạng phát triển kinh tế Thủ đô trong giai đoạn mở rộng địa giới hành chính và hội nhập WTO. Các phân tích, đánh giá và hệ thống chỉ tiêu đề xuất đến năm 2010–2020 cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho nghiên cứu kinh tế học phát triển và hoạch định chính sách đô thị.