Tổng quan nghiên cứu

Vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề sức khỏe cộng đồng mang tính cấp thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất con người và sự phát triển kinh tế xã hội. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, thực phẩm không an toàn là căn nguyên của hơn 200 bệnh lý từ tiêu chảy cấp đến ung thư mãn tính. Tại Việt Nam, thống kê của Bộ Y tế cho thấy năm 2015 cả nước ghi nhận 171 vụ ngộ độc thực phẩm khiến hơn 5.000 người mắc và 23 trường hợp tử vong; năm 2017 tiếp tục xảy ra 102 vụ ngộ độc làm 3.150 người bị ảnh hưởng và 22 ca tử vong. Riêng tại tỉnh Tiền Giang trong năm 2017 đã xảy ra 5 vụ ngộ độc thực phẩm với 192 người mắc, đồng thời chương trình giám sát 630 mẫu bún tươi, bánh canh, hủ tiếu phát hiện 14 mẫu chứa hóa chất độc hại bị cấm như hàn the và formol.

Bún tươi là thực phẩm ăn ngay truyền thống được tiêu thụ phổ biến hàng ngày nhưng có độ ẩm cao, rất dễ nhiễm khuẩn và biến chất nếu điều kiện chế biến không đảm bảo. Tại Phường 9, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, có 26 cơ sở sản xuất bún đang cung ứng từ 10 đến 15 tấn thành phẩm mỗi ngày cho thị trường nội tỉnh. Đa phần các cơ sở hoạt động theo mô hình hộ gia đình nhỏ lẻ, chưa được chuẩn hóa quy trình một chiều và thiếu kiểm soát chặt chẽ về điều kiện vệ sinh. Xuất phát từ thực trạng đó, nghiên cứu được triển khai nhằm mô tả điều kiện an toàn thực phẩm tại 26 cơ sở sản xuất bún và đánh giá toàn diện kiến thức, thực hành của 81 người trực tiếp tham gia sản xuất tại Phường 9, thành phố Mỹ Tho trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2018. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng giúp cơ quan quản lý nâng cao tỷ lệ tuân thủ quy chuẩn y tế và giảm thiểu nguy cơ bùng phát ngộ độc thực phẩm tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình đánh giá điều kiện an toàn thực phẩm ba trục theo quy chuẩn của Bộ Y tế, bao gồm: điều kiện cơ sở hạ tầng, điều kiện trang thiết bị dụng cụ và điều kiện con người. Khung lý thuyết này được tích hợp cùng mô hình thay đổi hành vi sức khỏe KAP nhằm phân tích mối liên hệ giữa nhận thức lý thuyết và hành vi thao tác thực tế của nhân công làng nghề. Bên cạnh đó, nguyên tắc sản xuất một chiều trong công nghệ thực phẩm được sử dụng làm chuẩn mực đánh giá thiết kế không gian, ngăn ngừa triệt để hiện tượng ô nhiễm chéo giữa nguyên liệu thô và thành phẩm chín.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm:

  • An toàn thực phẩm: Khả năng bảo đảm thực phẩm không gây hại đến sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng theo quy định của Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12.
  • Ô nhiễm thực phẩm và ô nhiễm chéo: Sự xuất hiện ngoài ý muốn của các tác nhân sinh học, hóa học hoặc vật lý từ môi trường, dụng cụ và bàn tay người sản xuất vào bún trong suốt quy trình chế biến.
  • Phụ gia thực phẩm độc hại: Các chất hóa học không được phép sử dụng trong chế biến bún như hàn the (borax) và formol, có khả năng gây ngộ độc cấp tính hoặc tích lũy tế bào dẫn đến suy gan, suy thận.
  • Vùng nhiệt độ nguy hiểm: Khoảng nhiệt độ từ 5°C đến 60°C, nơi vi sinh vật phát triển mạnh mẽ nhất trên các sản phẩm tinh bột lên men như bún tươi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng. Địa bàn nghiên cứu được chọn là Phường 9, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang với khung thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đề tài tiến hành chọn mẫu toàn bộ, khảo sát 100% gồm 26 cơ sở sản xuất bún đang hoạt động trên địa bàn. Đối với người sản xuất, nghiên cứu thu thập toàn bộ 81 cá nhân trực tiếp tham gia vào các công đoạn chế biến, bao gồm 26 chủ cơ sở/người quản lý và 55 lao động làm công. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ giúp loại trừ sai số chọn mẫu, phản ánh chính xác bức tranh toàn cảnh của làng nghề.

Công cụ và quy trình thu thập số liệu:

  • Bảng kiểm quan sát điều kiện cơ sở gồm 15 tiêu chí chính với 31 biến số thành phần, xây dựng dựa trên Thông tư số 15/2012/TT-BYT của Bộ Y tế và Thông tư số 45/2012/TT-BCT của Bộ Công Thương.
  • Phiếu phỏng vấn kết hợp quan sát thực hành gồm 23 biến số kiến thức và 19 biến số thực hành, chuẩn hóa theo Quyết định số 37/QĐ-ATTP và Quyết định số 6409/QĐ-BCT. Thang đo quy ước tiêu chuẩn "Đạt" khi đối tượng đạt từ 80% tổng điểm trở lên cho từng nhóm nội dung.

Xử lý và phân tích dữ liệu: Số liệu sau khi làm sạch được nhập hai lần bằng phần mềm EpiData 3.1 nhằm loại bỏ lỗi nhập liệu, sau đó phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) bằng phần mềm SPSS phiên bản 18.0. Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo Quyết định số 291/2018/YTCC-HD3, bảo đảm tính bảo mật và tự nguyện của đối tượng khảo sát.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 26 cơ sở sản xuất bún và 81 nhân công tại Phường 9, TP. Mỹ Tho ghi nhận các kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, tỷ lệ cơ sở đạt chuẩn chung về điều kiện an toàn thực phẩm là 76,9% (20/26 cơ sở). Trong ba nhóm điều kiện thành phần, điều kiện về con người đạt tỷ lệ cao nhất với 92,3% (24/26 cơ sở), tiếp đến là điều kiện trang thiết bị dụng cụ đạt 80,8% (21/26 cơ sở), và thấp nhất là điều kiện cơ sở vật chất với 76,9% (20/26 cơ sở). 100% cơ sở đã hoạt động trên 1 năm, trong đó quy mô nhỏ từ 3 công nhân trở xuống chiếm đa số với 88,5% (23 cơ sở).

Thứ hai, tồn tại nhiều bất cập trong khâu bảo quản nguyên liệu và thành phẩm. Tỷ lệ cơ sở có kho chứa gạo đạt chuẩn sạch sẽ, không ẩm mốc chỉ đạt 46,2% (12/26 cơ sở); tỷ lệ gạo có kho dự trữ riêng biệt với nhãn mác rõ ràng đạt 57,7%. Đáng chú ý, chỉ có 23,1% cơ sở (6/26 cơ sở) trang bị đầy đủ giá kệ, nhiệt kế, ẩm kế và thiết bị phòng chống côn trùng tại khu vực bảo quản thành phẩm.

Thứ ba, có sự chênh lệch lớn giữa kiến thức và thực hành an toàn thực phẩm của người lao động. Tỷ lệ người sản xuất có kiến thức chung đúng về an toàn thực phẩm đạt 75,3% (61/81 người). Tuy nhiên, tỷ lệ người đạt tiêu chuẩn thực hành chung đúng chỉ dừng lại ở mức 53,1% (43/81 người).

Thứ tư, việc chấp hành quy định bảo hộ lao động cá nhân còn hạn chế. Mặc dù 100% chủ cơ sở và công nhân có giấy xác nhận kiến thức và giấy khám sức khỏe định kỳ, tỷ lệ cơ sở có người sản xuất mặc đầy đủ trang phục bảo hộ riêng, đội mũ, đeo găng tay chuyên dụng và mang khẩu trang khi làm việc chỉ đạt 42,3% (11/26 cơ sở).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ tuân thủ giữa 3 nhóm điều kiện (Cơ sở vật chất: 76,9%, Thiết bị: 80,8%, Con người: 92,3%), kết hợp biểu đồ mạng nhện (radar chart) làm nổi bật khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ kiến thức đạt chuẩn (75,3%) và thực hành thực tế (53,1%).

Khi so sánh với các y văn trong nước, tỷ lệ cơ sở đạt điều kiện an toàn thực phẩm chung tại Phường 9 (76,9%) cao hơn đáng kể so với kết quả tại làng nghề bánh kẹo Cổ Hoàng - Hà Nội của Nguyễn Hoài Phương năm 2016 (60,6%), các cơ sở sản xuất bún tại Vũ Hội - Thái Bình của Ninh Thị Nhung năm 2010 (58,0%), và làng nghề bún Hưng Yên của Trần Đình Tấn năm 2008 (64,4%). Điều này cho thấy công tác quản lý chất lượng tại TP. Mỹ Tho đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, nghịch lý giữa nhận thức đúng (75,3%) và thực hành đúng (53,1%) phản ánh thói quen làm việc theo quán tính thủ công của người lao động. Trong môi trường lò bún có nhiệt độ và độ ẩm cao, công nhân thường có xu hướng cởi bỏ mũ, khẩu trang và thao tác bốc bún bằng tay trần. So với nghiên cứu của Phạm Minh Nhựt năm 2016 tại TP. Long Xuyên (tỷ lệ tuân thủ thực hành cá nhân đạt 0%), mức độ thực hành 53,1% tại TP. Mỹ Tho tuy vượt trội nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ nhiễm khuẩn chéo nghiêm trọng từ bàn tay và môi trường bảo quản gạo ẩm mốc vào sợi bún thành phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ:

  1. Nâng cấp hạ tầng kho nguyên liệu và khu bảo quản: Các chủ cơ sở sản xuất bún cần tái thiết kế kho bảo quản gạo, lắp đặt hệ thống giá kệ kê cao cách mặt đất tối thiểu 20 cm và cách tường 30 cm, bổ sung máy hút ẩm và lưới chống côn trùng xâm nhập. Mục tiêu nâng tỷ lệ kho nguyên liệu và kho thành phẩm đạt chuẩn từ 46,2% lên trên 85% trước quý 2 năm 2019, do chủ cơ sở chịu trách nhiệm đầu tư dưới sự hướng dẫn chuyên môn của Phòng Y tế TP. Mỹ Tho.

  2. Chuẩn hóa quy chuẩn thực hành bảo hộ và vệ sinh cá nhân: Ban hành nội quy bắt buộc 100% công nhân phải trang bị đầy đủ tạp dề, mũ trùm tóc, khẩu trang y tế và găng tay chuyên dụng khi tiếp xúc trực tiếp với bún; bố trí bồn rửa tay có đủ xà phòng sát khuẩn và khăn lau dùng một lần ngay tại lối vào khu chế biến. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thực hành bảo hộ lao động đạt chuẩn từ 42,3% lên 90% trong vòng 6 tháng.

  3. Đổi mới phương pháp đào tạo và tập huấn kiến thức: Trạm Y tế Phường 9 phối hợp cùng Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Tiền Giang chuyển đổi hình thức tập huấn định kỳ từ truyền thụ lý thuyết sang đào tạo thực hành trực tiếp tại hiện trường (cầm tay chỉ việc). Tổ chức đào tạo lại 6 tháng/lần, hướng tới mục tiêu 100% người sản xuất chuyển hóa kiến thức đúng thành hành vi thực hành chuẩn xác.

  4. Tăng cường thanh tra liên ngành và áp dụng chế tài xử phạt nghiêm minh: Đội kiểm tra liên ngành Công Thương - Y tế TP. Mỹ Tho cần tăng tần suất thanh tra đột xuất từ 1 lần/năm lên tối thiểu 3 đến 4 lần/năm theo Nghị định 178/2013/NĐ-CP; kết hợp xét nghiệm nhanh định kỳ mẫu bún để tầm soát hàn the, formol và vi sinh vật gây bệnh; công khai danh sách cơ sở vi phạm trên các phương tiện truyền thông đại chúng trong giai đoạn 2018 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (Chi cục ATTP Tiền Giang, Phòng Y tế, Phòng Kinh tế TP. Mỹ Tho): Ứng dụng nguồn số liệu thực chứng để hoạch định chính sách quy hoạch làng nghề, xây dựng kế hoạch thanh tra liên ngành và hoàn thiện quy chuẩn kiểm soát an toàn cho các cơ sở chế biến thực phẩm truyền thống.
  • Chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất bún tại các làng nghề: Vận dụng bộ tiêu chí kỹ thuật trong luận văn để tự đánh giá, cải tạo mặt bằng xưởng sản xuất theo nguyên tắc một chiều, chuẩn hóa quy trình bảo quản nguyên liệu gạo và nâng cao ý thức vệ sinh cá nhân của thợ làm bún.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng và An toàn thực phẩm: Sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu cắt ngang định lượng, cách xây dựng bộ công cụ bảng kiểm quan sát thực địa và kỹ thuật phân tích biến số KAP.
  • Các hiệp hội ẩm thực và tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Khai thác thông tin nghiên cứu để xây dựng các tài liệu truyền thông cộng đồng, hỗ trợ người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn các sản phẩm bún an toàn không chứa hóa chất độc hại.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao tỷ lệ cơ sở đạt điều kiện chung là 76,9% nhưng khâu bảo quản gạo chỉ đạt 46,2%?
Nguyên nhân chủ yếu do 88,5% cơ sở sản xuất có quy mô hộ gia đình nhỏ lẻ dưới 3 lao động với diện tích mặt bằng chật hẹp. Các chủ cơ sở chưa đầu tư kho chứa chuyên dụng mà thường để bao gạo trực tiếp sát sàn nhà, dẫn đến tình trạng ẩm mốc và dễ bị côn trùng xâm nhập trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm.

Yếu tố nào tạo nên khoảng cách giữa kiến thức đúng (75,3%) và thực hành đúng (53,1%)?
Dù 100% công nhân đều được cấp chứng nhận tập huấn lý thuyết, nhưng thói quen sản xuất thủ công lâu năm kết hợp với điều kiện làm việc nóng bức tại khu vực ép bún khiến nhiều người bỏ qua việc mang găng tay, khẩu trang và mũ bảo hộ (tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt 42,3%), gây ra sự thiếu đồng bộ giữa nhận thức và hành động.

Đề tài dựa trên các căn cứ pháp lý nào để xây dựng bộ công cụ đánh giá?
Nghiên cứu sử dụng hệ thống văn bản quy chuẩn quốc gia gồm: Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12, Thông tư 15/2012/TT-BYT, Thông tư 45/2012/TT-BCT của Bộ Công Thương, cùng các bộ câu hỏi chuẩn hóa tại Quyết định số 37/QĐ-ATTP và Quyết định số 6409/QĐ-BCT, đảm bảo tính chuẩn xác và giá trị pháp lý cao.

Quy trình sản xuất một chiều có vai trò như thế nào trong kiểm soát an toàn tại lò bún?
Thiết kế một chiều giúp phân tách rành mạch các phân khu từ kho gạo thô, khu ngâm ủ, khu ép luộc thành phẩm đến khu làm nguội và đóng gói. Cách bố trí này loại bỏ hoàn toàn nguy cơ ô nhiễm chéo vi sinh vật từ chất thải, nước thải và bùn cặn nguyên liệu vào sợi bún ăn ngay đã qua nhiệt luyện.

Biện pháp can thiệp cấp bách nhất cần thực hiện tại các lò bún Phường 9 là gì?
Biện pháp ưu tiên hàng đầu là hỗ trợ kỹ thuật để các cơ sở cải tạo ngay giá kệ kho chứa nguyên liệu chống ẩm mốc, đồng thời chuyển đổi phương thức tập huấn sang hướng dẫn thao tác thực hành rửa tay sát khuẩn và giám sát nghiêm ngặt việc mang đồ bảo hộ của 100% công nhân trong ca sản xuất.

Kết luận

  • Khảo sát toàn diện 26 cơ sở sản xuất bún và 81 nhân công tại Phường 9, TP. Mỹ Tho năm 2018, ghi nhận 76,9% cơ sở đạt chuẩn chung về điều kiện an toàn thực phẩm.
  • Nhận diện các điểm nghẽn trọng yếu trong chuỗi chế biến: điều kiện bảo quản gạo sạch chỉ đạt 46,2% và trang thiết bị kho bảo quản thành phẩm chỉ đạt 23,1%.
  • Lượng hóa độ vênh đáng kể giữa kiến thức đạt chuẩn (75,3%) và thực hành thực tế đúng quy định (53,1%) của người trực tiếp sản xuất.
  • Cung cấp bộ công cụ định lượng chuẩn hóa và bằng chứng khoa học xác thực phục vụ công tác quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm tuyến cơ sở.
  • Đề xuất khung can thiệp 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nâng cấp hạ tầng, đào tạo thực hành và tăng cường thanh tra liên ngành giai đoạn 2018 - 2020.

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chủ cơ sở sản xuất trên hành trình xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, bền vững. Hãy liên hệ và trích dẫn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý và nghiên cứu học thuật!