Chương I: Co sở lý luận của sự điều chính pháp luật về thuê mua tài chính. - Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thuê mua tài chính tại Việt Nam hiện nay. - Chương III: Một số kiến nghị cho việc tiếp tục xây dung và hoàn thiện pháp luật thuê mua tài chính tại Việt Nam. CHƯƠNG | CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ THUÊ MUA TAI CHÍNH I/ KHÁI LUẬN THUÊ MUA TAI CHÍNH Vốn là điều kiện quan trọng để hình thành một doanh nghiệp.
Vốn còn là yếu tố không thể thiếu được trong đầu tư ban đầu cũng như việc triển khai các hoạt động kinh doanh. Cu thé là, hầu hết các doanh nghiệp đều có nhu cầu mua sắm, đổi mới máy móc thiết bị. Thậm chí có những doanh nghiệp, việc đổi mới và hiện đại máy móc, thiết bị là nền móng cơ bản để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Ngoài việc sử dụng nguồn vốn nội bộ, doanh nghiệp còn phải huy động vốn từ bên ngoài thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay đi vay.
Nhưng không phải thời điểm nào các giải pháp này cũng là khả thi đối với doanh nghiệp. Ngay cả trong việc trực tiếp vay vốn của các ngân hàng, doanh nghiệp vẫn không thể thỏa mãn được nhu cầu của mình nếu như không có uy tín, nếu hoạt động kinh doanh không có hiệu quả hoặc không có tài sản thế chấp hợp pháp. Đấy là chưa kể đến khả năng huy động vốn từ hệ thống ngân hàng và nhu cầu vốn trung và đài hạn nhằm đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị và công nghệ hiện nay đang có những hạn chế. Cùng lúc đó, các nhà sản xuất máy móc, thiết bị vừa muốn bán được hàng, vừa muốn nhanh chóng thu lợi nhuận để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được liên tục.
Trong bối cảnh đó, thuê mua tài chính ra đời nhằm tháo gỡ được khó khăn cho cả ba bên: Doanh nghiệp, Nhà sản xuất, Ngân hàng; và góp phần vào sự phát triển một nền kinh tế hoàn chỉnh: có sự tăng cường thu hút nguồn vốn trung và dài hạn. Việc ra đời nghiệp vụ thuê mua tài chính là một trong những giải pháp quan trọng đáp ứng được nhu cầu về vốn, thực hiện sự chuyển đổi về cơ cấu tín dụng theo hướng này. Vậy thuê mua tài chính là gì? Bản chất pháp lý của nó ra sao? 1. Bản chất pháp lý của thuê mua tài chính Từ khi ra đời cho đến nay, thuật ngữ “leasing” được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng nham hàm chỉ hoạt động cho thuê tài sản được các định chế tài chính (trong đó nhất thiết phải có công ty thuê mua tài chính) mua theo yêu cầu của bên thuê.
Hết thời hạn thuê, bên thuê được phép chuyển quyẻn sở hữu. mua lai hoặc tiếp tục thuê tài san đó theo các dieu kiện đã thoả thuận trong hop dong thuê mua tài chính. tn Ở Việt Nam, theo các văn bản pháp quy (Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực ngày 1/10/1998; Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 ban hành “Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính Việt Nam”) sử dụng thuật ngữ “cho thuê tài chính” đối với hoạt động nêu trên, Bên cạnh thuật ngữ ''cho thuê tài chính”, hiện nay còn tồn tại nhiều các thuật ngữ khác như: “tín dụng thuê mua”, “thuê mua tài chính”. Thuật ngữ “tín dụng thuê mua”, nhìn dưới góc độ tín dụng, là một phương thức tài trợ vốn, cấp vốn được thực hiện dưới hình thức tài sản đem cho thuê.
Theo tác giả, về mặt khoa học, thuật ngữ “cho thuê tài chính” chưa bao quát, thể hiện đầy đủ nội dung của khái niệm “leasing”. Bởi lẽ, khái niệm “cho thuê tài chính” thiên về việc đem tài sản của mình để “cho người khác thuê” hơn là việc ''thuê để mua”. Mặt khác, trong hoạt động tín dụng thuê mua, ngoài yếu tố thuê tài sản, thì việc thoả thuận chuyển quyền sở hữu, mua lại tài sản khi kết thúc hợp đồng thường được các bên đặt ra. Do vậy, thuật ngữ “thuê mua tài chính”, tiếp theo đó là thuật ngữ “công ty thuê mua tài chính”, “hợp đồng thuê mua tài chính” thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động “leasing”.
Ủy ban tiêu chuẩn kế toán Quốc tế đưa ra định nghĩa thuê mua tài chính như sau: Thuê mua tài chính (financial lease) là một giao dich trong đó một bên (người cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (người đi thuê) trong một thời gian nhất định, mà trong thời gian do, người cho thuê dự định thu hồi vốn tài trợ cùng các chỉ phí liên quan; quyền sở hitu tài sản có thể được chuyển giao hay không tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên”. Từ định nghĩa nêu trên, có thể phân tích bản chất pháp lý của thuê mua tài chính: * Thuê mua tài chính là một chế định pháp lý rất đặc thù. Với tư cách là một chế định pháp luật, thuê mua tài chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể phát sinh từ việc tài trợ vốn đưới hình thức tài sản. - Chủ thể trong quan hệ thuê mua tài chính: Về nguyên tắc, thuê mua tài chính gồm 3 bên: (Xem thêm phụ lục 1) : Neuon: International \ccouting Standards Commitee, IAS 17, 1991/1992.
- Nguoi cho thuê (Lessor) là Công ty thuê mua tài chính - người sẽ thanh toán toàn bộ giá trị mua bán tài sản theo thỏa thuận giữa người thuê với nhà sản xuất hay cung cấp và là chủ sở hữu về mặt pháp lý của tài sản mà người thuê sử dụng. Trong trường hợp cho thuê tài sản của chính họ thì người cho thuê là nhà cung cấp thiết bị. - Nguoi thuê (Lessee): Thường là doanh nghiệp, người có quyền sử dụng tài sản, hưởng những lợi ích và gánh chịu những rủi ro liên quan đến tài sản và có nghĩa vụ trả những khoản tiền thuê theo thoả thuận. Nha sản xuất hay nhà cung cấp (Manufacturer or Supplier): Là người cung cấp tài sản, thiết bị theo thỏa thuận với người thuê và theo các điều khoản trong hợp đồng mua bán thiết bị đã ký kết với người cho thuê.
- Đối tượng của thuê mua tài chính: So với các phương thức tài trợ cổ điển dưới hình thức tiền tệ, thué mua tài chính được thực hiện dưới hình thức tài sản. Tài sản trong thuê mua tài chính phổ biến là động sản, có thời gian sử dụng lâu dài và không dễ bị lạc hậu (như máy móc, trang thiết bị, ô tô, xe lửa tàu thuyền. Ngoài ra, bất động sản cũng có thể là đối tượng của các giao dịch thuê mua tài chính (như dùng để để lập các siêu thị lớn, khách sạn. khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm điện thoại.
Đối với loại tài sản này người thuê thường chú trọng lựa chọn tài san thuê và lựa chon nhà san xuất. - Phương pháp tác động của thuê mua tài chính: Thực chất thuê mua tài chính là sự giao dịch giữa người thuê (Doanh nghiệp) với người cho thuê (Công ty thuê mua tài chính), theo đó người thuê nhận quyền sứ dụng tài sản dé khai thác phục vu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và có thé được chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ người cho thuê theo thoả thuận đó. Do vậy, các quan hệ kinh doanh giữa công ty thuê mua tài chính và doanh nghiệp về cơ bản là mối quan hệ bình đẳng. * Một số đặc điểm cơ bản của chế định pháp lý thuê mua tài chính: - Thuê mua tài chính là hình thức tài trợ bổ sung, thay thế cho các hình thức tài trợ truyền thống như tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng.
Hình thức này đáp ứng được nhu cầu thiết bị, máy móc cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện eo hẹp về vốn, giúp người bán giải quyẻt nhu cầu bán hàng thu tiền, đồng thời dam bao cho các định chế tài chính ingan hàng, tổ chức tín dung, công ty tài chính, công ty thué mua tài chính.) có thẻ cấp các Khoan tín dụng có hiệu quả và an toàn. Công ty thuê mua tài chính đứng ra mua tài sản đó theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp (người thuê) và trả tiền cho người bán (nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp), rồi cho doanh nghiệp thuê lại. Doanh nghiệp khai thác tính hữu ích của tài sản, gánh chịu rủi ro liên quan đến tài san thuê và tra tiền thuê định kỳ cho công ty thué mua tài chính. Vì vậy, đặc điểm thứ nhất của chế định pháp lý thuê mua tài chính là nó được dựa trên cơ sở của nghiệp vụ thuê và nghiệp vụ mua bán, trong đó thuê là điều kiện tiền dé của mua bán.
- Thời hạn tín dụng trong giao dịch thuê mua tài chính là thời hạn của hợp đồng thuê. Thời hạn này không được huy ngang và thường chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của thiết bị. Tuy nhiên, hết thời hạn của hợp đồng thuê, người thuê có thể được chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản, hoặc tiếp tục thuê tùy theo thỏa thuận của hai bên. Quyển chọn mua này là điểm quan trọng để phân biệt thuê mua tài chính với các hình thức cho thuê giản đơn.
- Có thể coi thuê mua tài chính là một hình thức vay mượn, mục đích của người cho thuê cũng giống như mục đích của người cho vay và thu lãi trên vốn đầu tư, còn mục đích của người thuê cũng chỉ được sử dụng vốn có thời hạn và phải hoàn trả cho người cho thuê theo định kỳ dưới dạng tiền thuê. Tiền thuê được tính toán sao cho tổng các khoản tiền thuê thu được đủ trang trải số vốn bỏ ra mua tài sản cùng các chỉ phí liên quan và có dôi ra một khoản lợi nhuận hợp lý. Nhưng sự khác biệt về mặt pháp lý của thuê mua tài chính so với một khoản vay nợ chính là quyền người cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản và thu hồi tài sản ngay lập tức nếu có những dấu hiệu đe dọa đến sự an toàn tài sản cho thuê. Từ bản chất pháp lý nêu trên của thuê mua tài chính, chúng ta có thể phan biệt chúng với thuê vận hành: - Trong khi thuê mua tài chính là một hình thức cấp tín dụng mà người cho thuê dành cho người thuê, thì thuê vận hành chỉ là giao dịch cho thuê đơn thuần, trong đó người cho thuê cho phép người thuê sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình trong khoảng thời gian đã thỏa thuận để đổi lấy tiền thuê.