Chương I và II 29 của BLDS 2015 giúp gỡ bỏ quy định về nguyên tắc giao kết, thực hiện hợp đồng tại Mục 7, Chương XV. Điều đó 27 Tham khảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật của xã hội pháp quyền tại: - Nguyễn Xuân Tùng, 2011, Bàn về “nguyên tắc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, http://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1463, [truy cập lần cuối ngày 08/08/2017] - Đào Trí Úc, 2015, Giáo trình Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 28 Thay đổi đáng chú ý này được Đỗ Văn Đại bình luận rằng hợp đồng cần tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật dân sự như mọi hoạt động dân sự khác. Tham khảo: - Đỗ Văn Đại (chủ biên), 2016, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015, Nxb.
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 29 Những nguyên tắc cơ bản trong BLDS 2005 được quy định tại Điều 4 tới Điều 13, đến BLDS 2015 chỉ còn tồn tại trong duy nhất Điều 3 và trở thành Các nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự, làm cho phạm vi điều chỉnh được mở rộng theo đúng bản chất của pháp luật dân sự mặc dù thu gọn số điều luật quy định. Tham khảo thêm: - Vương Thanh Thuý, 2016, Một số điểm mới trong quy định về các nguyên tắc cơ bản của BLDS 2015, trong Chương 2 của cuốn sách: Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên), 2016, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS năm 2015, Nxb Tư Pháp, tr. - Đỗ Văn Đại, 2016, tlđd, tr.
12 cũng phù hợp với việc nhìn nhận hợp đồng hình thành trên cơ sở như chính khái niệm nó mang lại: “là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. 30 Như vậy, các nguyên tắc hợp đồng như đã quy định tại BLDS 1995 và BLDS 2005 bao gồm hai nội dung: - Tự nguyện tham gia, và tự do thoả thuận giao kết; nhưng, không trái pháp luật (không vi phạm điều cấm của luật)31, trái đạo đức. - Bình đẳng; thiện chí, hợp tác; trung thực và ngay thẳng. BLDS 2015, bên cạnh quy định tự chịu trách nhiệm, có bổ sung thêm nguyên tắc: - Không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Các nguyên tắc trước hết là căn cứ để xét xem tính hiệu lực của hợp đồng, và sau đó còn thể hiện sự ghi nhận quyền cá nhân từ Hiến pháp 2013. Và đây cũng chính là cơ sở để xác định giới hạn tác động đến quyền giao kết hợp đồng, quyền tài sản và tự do của cá nhân như những quyền cơ bản (fundamental rights) của con người với những gì pháp luật không cấm. Khởi nguyên của những quy định pháp luật về nguyên tắc hợp đồng là một đề tài rộng lớn với tinh thần pháp luật nhiều biến chuyển. Từ giới hạn nghiên cứu, luận văn bắt đầu bằng quan điểm của nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp – Nguyễn Đình Lộc rằng BLDS Việt Nam được xây dựng trên nền tảng cơ bản của BLDS Liên Xô và sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp, vậy hẳn mô hình pháp luật hợp đồng Việt Nam được thành hình dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Napoleon và Luật La Mã,32 và lấy cơ sở ấy để tìm hiểu về nguyên tắc giao kết hợp đồng mà chúng ta đang sử dụng.33 BLDS Cộng hòa Pháp hay Bộ luật Napoleon là một bộ luật nổi tiếng, nó là hình mẫu của nhiều BLDS của nhiều nước trên thế giới.
Sau dịp kỷ niệm 200 năm ra 30 Điều 385, BLDS 2015. 31 Đây cũng là một thay đổi mang tính cơ bản, song từ góc độ phân tích phục vụ đề tài, tác giả xin phép không đề cập tới. 32 Nguyễn Đình Lộc, 2004, 200 năm BLDS Cộng hoà Pháp và sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam,Tham luận Kỷ niệm 200 năm BLDS Pháp, Nhà pháp luật Việt – Pháp, tr. 33 Mặc dù như phân tích rằng hợp đồng tồn tại một cách tự nhiên trong mỗi cộng đồng, mỗi xã hội.
Nhưng những nguyên tắc cơ bản mà pháp luật Việt Nam quy định về hợp đồng chỉ bắt đầu xuất hiện khi các bộ Dân luật Bắc kỳ, Trung kỳ, và Nam kỳ giản yếu được trích lược phần lớn từ BLDS Napolenon được áp dụng. Tham khảo: - Nguyễn Ngọc Khánh, 2006, Chế định hợp đồng từ Luật La Mã đến BLDS, Tạp chí Kiểm Sát, số 7, tháng 4 năm 2006, tr. 13 đời, BLDS Pháp đứng trước khả năng sửa đổi. Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng trong pháp luật Pháp, do Nhà pháp luật Việt Pháp tổng hợp tại Kỷ yếu toạ đàm về sửa đổi BLDS năm 2012,34 được Yves Marie Latheir trình bày các nguyên tắc: - Nguyên tắc tự do hợp đồng - Nguyên tắc thoả thuận - Nguyên tắc tôn trọng trật tự công và thuần phong mỹ tục - Nguyên tắc ngay tình So sánh với các nguyên tắc đã nêu về hợp đồng trong BLDS Việt Nam, có thể thấy sự tương đồng đáng kể, nhưng dường như các nguyên tắc trong pháp luật hợp đồng Việt Nam chỉ đóng góp vai trò hình thức trong các điều luật chi tiết hơn là được áp dụng trong thực tiễn pháp luật.35 Trong khi ấy, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng của Pháp được đánh giá bên cạnh tính hiệu quả khi áp dụng thực tế, cũng như nhu cầu phát triển của xã hội.
Cùng với khả năng bổ trợ lẫn nhau của các nguyên tắc, pháp luật dân sự Pháp chú ý đến sự xuất hiện và phát triển của các nguyên tắc khác: - Nguyên tắc về tính công bằng của hợp đồng - Nguyên tắc tính hữu ích của hợp đồng - Nguyên tắc về tính tương xứng giữa các bên - Nguyên tắc an toàn pháp lý - Nguyên tắc nhất quán gắn kết - Nguyên tắc trung thực và hợp tác - Nguyên tắc tuân thủ các quyền cơ bản - Nguyên tắc không phân biệt đối xử Từ nhu cầu xã hội, các nguyên tắc được thử thách trên thực tế và cân nhắc khả năng bổ sung vào BLDS của nước Pháp nếu có thể bổ khuyết cho các nguyên tắc đã tồn tại. Ví dụ như nguyên tắc không phân biệt đối xử - việc phân biệt đối xử sắc tộc hẳn nhiên là xâm phạm quyền cơ bản của con người, nhưng khi pháp luật dân sự xác lập các quy định về thay đổi giới tính như một sự đòi hỏi thực tế cũng như quyền cơ bản, thì có nên cân nhắc một nguyên tắc hợp đồng mà ở đó, các hợp đồng có sự phân biệt đối tượng chuyển giới, như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng lao động,… để đảm 34 Yves Marie Latheir, 2012, tlđd. 35 Tham khảo: - Nguyễn Ngọc Khánh, 2006, tlđd, tr. - Vương Thanh Thuý, 2016, tlđd, tr.
- Bộ Tư pháp, 2013, Tổng kết thi hành Bộ luật dân sự năm 2005, Số: 151/BC-BTP, ngày 15/7/2013. 14 bảo lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội hay không? Đó là câu hỏi được các nhà nghiên cứu lưu tâm. Các nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam còn ít đề cập tới những vấn đề được kết nối với nguyên tắc cơ bản của quan hệ dân sự hay pháp luật hợp đồng, ngay cả khi nhà làm luật đã cập nhật các thuật ngữ lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; lẽ công bằng thì nội hàm của chúng cũng chưa được làm rõ. Bằng việc bình luận luật, các nguyên tắc vẫn trừu tượng và khó khăn trong vận dụng.
Nguyên nhân cũng một phần bởi tính đặc thù của hệ thống tư pháp, đã khiến cho sự phát triển nền tảng các nguyên tắc ấy bị trì trệ. Việc nghiên cứu, phát triển các nguyên tắc pháp lý, lý luận pháp luật, cũng như phát triển pháp luật nói chung, bên cạnh việc tìm hiểu nguồn gốc và giá trị nguyên bản, cần được đặt trong bối cảnh (tư pháp trọng văn bản luật, kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) và văn hóa (Á Đông với các triết lý Nho giáo, Phật giáo) của nước nhà.36 Các phân tích về công bằng bên cạnh tự do hợp đồng – tự do ý chí trong khế ước sẽ được đặt trong bối cảnh cụ thể của kinh tế - xã hội Việt Nam. Nhưng trước hết, cần xác định quy luật phát triển chung, để tính đặc thù không trở thành cá biệt trong sứ mệnh phát triển pháp luật. Xu hướng phát triển của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hợp đồng Công bằng là nguyên tắc bắt buộc trong pháp luật Anh, đã từng là hệ thống xét xử độc lập Hoa Kỳ, và đã từng xuất hiện trong nền tư pháp trọng án lệ của nước Pháp.37 Gần nhất, BLTTDS 2015 tại khoản 2 Điều 4 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” và khoản 2 Điều 6 của BLDS 2015 quy định: “Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật … thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự …, án lệ, lẽ công bằng”.
Và đó được coi là một cơ chế để Tòa án có thể tiếp nhận mọi yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự và các thẩm phán thực hiện nguyên tắc công bằng của pháp luật.38 Với pháp luật hợp đồng thì tự do vẫn là nền tảng cơ bản, công bằng dường như không đóng vai trò gì trong thỏa thuận của tự do ý chí. Vậy công bằng liệu có cần thiết cho mối quan hệ hợp đồng ngày nay? Câu trả lời là có. Bởi các vấn đề mới trong xã hội đang ngày càng nhiều và thay đổi nhanh chóng quan điểm về tự do hợp đồng trên phạm vi toàn cầu. Giới hạn về các hành vi tự do được xác lập ngày càng rõ ràng 36 Phạm Duy Nghĩa, 2011, tlđd, tr.
37 Triệu Quốc Mạnh, 2000, tlđd, tr. 38 Lê Quang Vy, Lương Văn Trung, 2015, tlđd. 15 và mở rộng phạm vi của nó ở cả hai hướng cơ bản: giữa cá nhân với bên/các bên còn lại của hợp đồng; và giữa quan hệ hợp đồng với lợi ích công cộng.39 Từ những năm 1970, không chỉ ở Pháp, mà hầu hết các nước phát triển tại châu Âu cũng như trên thế giới, đã nhận ra những quy định chung về nguyên tắc hợp đồng nhằm đảm bảo cho hiệu lực hợp đồng là không đủ để bảo vệ một bên yêu thế hơn tránh khỏi sự lợi dụng từ những điều khoản của hợp đồng của các tổ chức, thương nhân ngày một lớn mạnh theo đà phát triển của kinh tế toàn cầu.