Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1. Lý luận về khuyết tật và trẻ em khuyết tật 1. Khái niệm trẻ em Theo điều 1 Công ước của Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em có quy định như sau “ o ủa Cô , ẻe ó ĩa d 18 ổ, ừ ợ ó dụ ẻe óq ổ ê ơ ”. Đối với bối cảnh tình hình thực tế xã hội tại mỗi quốc gia khác nhau mà độ tuổi trẻ em có thể thay đổi sao cho phù hợp nhất đối với việc bảo vệ quyền trẻ em.
Theo đó Việt Nam đã ban hành Luật Trẻ em Luật số: 102/2016/QH13 ban hành ngày 05 tháng 4 năm 2016 trong Điều 1 đã qui định rõ “ ẻ e d 16 ổ ” [18]. Khái niệm khuyết tật Trong giao tiếp cũng như trong nghiên cứu nhiều lúc còn nhầm lẫn trong khi sử dụng giữa các từ như: khiếm khuyết, khuyết tật hay tàn tật. Với từ khiếm khuyết là chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc sinh lý. Và “ ì bấ ợ x ấ ừ oặ ệ ệ a ò ợ o bì ổ , í xã ă óa”.24] Và khái niệm về khuyết tật đã được đưa ra trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe” (International Classification of Functioning- ICF) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại đại hội lần thứ 54 của WHO tổ chức vào ngày 22 tháng 5 năm 2001 như sau: “K ữ ỉ ì , a a, ể ệ ữ ặ ê o q a ệ ơ ữa â ( ặ ì ứ ỏe) o ả ủa ó (bao ồ ô â )” [11, tr.
Với khái niệm trên đã làm thay đổi cách nhìn nhận về “khuyết tật” vì đã thừa nhận mỗi con người đều có thể bị suy giảm về sức khỏe và đối mặt với tình trạng khuyết tật ở một mức độ nào đó trong một hoàn cảnh cụ thể. Qua khái niệm cũng đã chỉ ra không nên nhìn nhận khuyết tật chỉ ở thể rối loạn chức năng về 10 y học hay sinh học mà còn có cả yếu tố tác động của môi trường lên hoạt động của con người. Vì vậy khuyết tật không còn là từ để diễn tả dành cho người khuyết tật mà còn liên quan đến toàn xã hội, thái độ, mối quan hệ và sự hỗ trợ. Người khuyết tật Trước đây trong các văn bản chúng ta thường hay sử dụng thuật ngữ “ ” như ệ ủa V ệ Na ba 30/7/1998 tuy nhiên khi Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 17/6/2010 đã xác định rõ “N b oặ b ơ ể oặ b ả ứ ă ợ bể ệ d d o ao , o , ặ ó ă ” [17].
Trẻ em khuyết tật Như vậy dựa trên cơ sở khái niệm về trẻ em và khái niệm về người khuyết tật chúng ta có thể xác định “TEKT d 16 ổ b oặ b ơ ể oặ b ả ứ ă ợ bể ệ d d o ao , o , ặ ó ă ”. Từ đó có thể xác định được quyền và lợi ích của trẻ em bị khuyết tật để có thể cung cấp các dịch vụ CTXH với phù hợp với TEKT nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho trẻ. Phân loại khuyết tật Khuyết tật được phân thành nhiều loại khác nhau dựa vào Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2010 chúng ta có thể phân khuyết tật thành những dạng cụ thể sau: 1. V d -K : là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
-K ì : là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. -K e, ó : là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. -K í ệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. -K ầ , â ầ : là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, 11 kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.
-K : là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy định tại các dạng trên. V ứ : được phân loại theo qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật tại Điều 3 Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ngày10/4/2012 như sau: -N ặ bệ ặ : là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. -N ặ : là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc. -N ẹ: là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại hai mức độ trên.
Nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ em Khuyết tật được phân thành nhiều loại khác nhau nên nguyên nhân gây nên tình trạng khuyết tật cũng rất đa dạng. Trong đề tài này người nghiên cứu tạm thời phân nguyên nhân gây nên các dạng khuyết ở người khuyết tật cũng như TEKT thành nhũng nhóm nguyên nhân sau: 1. - Do di truyền. - Phụ nữ sử dụng thuốc kháng sinh trong quá trình mang thai.
- Lỗi nhiễm sắc thể: hội chứng Đao; Lỗi gen: Rett, Prader Willy. - Rối loạn do nhiều yếu tố: nứt đốt sống, tràn dịch màng não, tật đầu nhỏ, não úng thủy. - Do lây nhiễm: sởi rubella, nhiễm toxoplasma, vi rút cự bào, giang mai, nhiễm HIV. - Do nhiễm độc: một số loại y dược mà bà mẹ dùng như thuốc chống động kinh, chất rượu cồn, chụp tia X - quang, chất độc màu da cam.
- Suy dinh dưỡng ở người mẹ hoặc thiếu i ốt trong thức ăn hoặc nước uống. Trong khi sinh - Thiếu ô-xy ở trẻ: Những vấn đề do nhau thai, sinh quá lâu, trẻ không thở hoặc không khóc ngay sau khi sinh. - Tổn thương trong lúc sinh: Tổn thương não do mẹ đẻ khó hoặc do dùng forcep để kéo đầu trẻ. - Viêm nhiễm: Vi rút Herpes, giang mai, HIV.
- Đẻ non hoặc thiếu trọng lượng: Đẻ non hoặc thiếu trọng lượng. Sau khi sinh - Tổn thương: Trẻ gặp tổn thương não do chấn thương đầu nặng, hoặc do ngạt hay do các hoạt động trong điều trị như: phẫu thuật, chỉnh trị bằng tia phóng xạ… - Viêm nhiễm: Viêm màng não gây ra do bệnh sởi, ho gà, quai bị, thuỷ đậu, và viêm phổi… 1. M ê â Bên cạnh các nguyên nhân trên còn có rất nhiều nguyên nhân khác tác động dẫn đến tình trạng khuyết tật bởi các nguyên nhân từ môi trường sống như: Đói nghèo, điều kiện ăn ở chật chội, mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường hay thiên tai dịch bệnh đặc biệt là tình trạng rất nhiều trường hợp dẫn đến khuyết tật đến từ nguyên nhân là tai nạn giao thông hay tai nạn lao động. Bên cạnh đó những nguyên nhân gây ra khuyết tật có nguồn gốc từ yếu tố chủ quan của con người cũng chiếm một tỉ lệ phần trăm không nhỏ đó là tình trạng thiếu thông tin, kiến thức về việc sử dụng các loại thuốc trong thai kỳ cũng như thiếu thông tin về các dịch vụ y tế sẵn có tại cộng đồng trong việc hỗ trợ phụ nữ trong các giai đoạn trước, trong và sau khi sinh nhất là ở những cộng đồng nghèo, thiểu số, vùng sâu vùng cao cũng đã góp phần làm gia tăng tỉ lệ TEKT.
Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ em khuyết tật và vai trò của gia đình trong việc hỗ trợ trẻ phát triển Có rất ít những nghiên cứu về đặc tính tâm sinh lý dành riêng cho TEKT, để có thể xây dựng được một cái nhìn khái quát về sự phát triển tâm sinh lý của TEKT qua các giai đoạn lứa tuổi tác giả đã tìm hiểu và trích dẫn lý thuyết của Mackelprang và Salsgiver về các giai đoạn phát triển đời người bởi hai ông đã gắn kết khuyết tật vào trong bản sắc riêng của cá nhân qua các giai đoạn phát triển của cá thể. Các ông nghiên cứu người khuyết tật qua các giai đoạn phát triển của họ bằng cách tiếp cận văn hóa và xã hội và được chia thành các giai đoạn như sau: 13 1. G a o ừ ă 2 ổ TEKT từ khi sinh hay những năm đầu đời đã học cách nhìn nhận cuộc sống từ quan điểm khuyết tật, những trải nghiệm đầu tiên của trẻ với những người khác xảy ra song hành cùng với khuyết tật và những phản ứng từ những người sống xung quanh về vấn đề khuyết tật. Và trẻ em mang khuyết tật từ khi còn rất sớm thường có 4 vấn đề sau: ứ ấ , trẻ dễ bị ảnh hưởng bởi những vấn đề của môi trường, đặc biệt là môi trường gia đình cho nên nếu phụ huynh quá che chở khiến đứa trẻ mất cơ hội thực hiện các công việc giúp cho sự phát triển của thể chất và nhận thức, có thể hình thành tâm lý ỷ lại ở trẻ.
Điều cần thiết là tìm hiểu các nhu cầu của TEKT, các cơ hội phát triển kỹ năng và tìm kiếm phương tiện, công cụ giúp con đương đầu học tập cách kiểm soát môi trường xung quanh. ứ a , TEKT có nguy cơ cao sẽ phải trải nghiệm môi trường của chúng theo một cách không được dễ chịu như sự can thiệp của y tế như phẫu thuật, thuốc… Cha mẹ cần được trang bị kiến thức và hỗ trợ để trẻ có cảm giác an toàn, giảm sự sợ hãi của trẻ xuống mức thấp nhất. ứ ba, TEKT nhạy cảm hơn nhiều so với những đứa trẻ không có khuyết tật nếu bị đối xử tệ và bị hành hạ. Một số trẻ có nguy cơ bị bóc lột, lợi dụng hoặc bạo hành từ người chăm sóc y tế.