phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Chƣơng 2: Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Chƣơng 3: Thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp bảo đảm thực hiện địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, nhiệm vụ và mục đích của điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự Giai đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT hoàn thành bản kết luận điều tra, đồng thời quyết định đề nghị truy tố người bị nghi là tội phạm trước Tòa án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. Trong quá trình điều tra, CQĐT được áp dụng mọi biện pháp của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập chứng cứ, mục đích để làm rõ sự việc phạm tội, về người thực hiện tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, kiến nghị biện pháp phòng ngừa với cơ quan và tổ chức hữu quan. Hoạt động điều tra chính là hoạt động thu thập chứng cứ, phục vụ cho việc xét xử của Tòa án.
Việc thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cử ở giai đoạn điều tra có tính chất sơ bộ, phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá chính thức tại phiên Tòa. Theo “Giáo trình tố tụng hình sự Việt Nam” của trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2006: “ Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự; trong đó cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng một số biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cớ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa đối với các cơ quan và tổ chức hữu quan” [24]. Như vậy, giai đoạn điều tra kết thúc bằng việc cơ quan điều tra kết luận điều tra và đề nghị truy tố hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án.
Trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn, khi kết thúc điều tra, CQĐT không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ cho VKS. Nhiệm vụ và mục đích của giai đoạn điều tra vụ án hình sự So với giai đoạn khởi tố vụ án, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra rộng hơn và phức tạp hơn. Các giáo trình, tài liệu về TTHS và về khoa học điều tra hình sự trình bày về nhiệm vụ của giai đoạn điều tra còn có sự khác nhau. Theo giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra có 04 nhiệm vụ là: Xác định tội phạm và người phạm tội; Xác định tội phạm do người phạm tội gây ra, tạo điều kiện cần thiết cho việc giải quyết vụ án; Lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can; Xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn chặn.
Tuy nhiên, qua tổng hợp các tài liệu và từ thực tiễn hoạt động điều tra, có thể khái quát nhiệm vụ và mục đích của giai đoạn điều tra là: - Xác định sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm Khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, CQĐT có nhiệm vụ thu thập các chứng cứ để xác minh có hay không sự việc phạm tội xảy ra. Khi thực hiện nhiệm vụ này, CQĐT cần thu thập chứng cứ chứng minh, làm rõ các đặc điểm: tính nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính chống đối pháp luật hình sự, tính phải chịu hình phạt của tội phạm. Khi có tố giác hoặc tin báo về tội phạm, CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền khác tiến hành xác minh sơ bộ và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thấy có dấu hiệu tội phạm. Thực tế, sau khi đa phần các vụ án xảy ra, cơ quan tiến hành tố tụng chưa biết ai là người thực hiện tội phạm, trừ những trường hợp phạm tội quả tang hoặc những vụ án thông qua đấu tranh chuyên án của ngành Công an, nên nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn điều tra là phải truy tìm người thực hiện tội phạm.
Đồng thời CQĐT còn có nhiệm vụ thu thập chứng cứ để chứng minh hành vi của họ có thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự hay không. Trong quá trình điều tra, CQĐT cần phải thu thập chứng cứ xác định vụ án do một người hay nhiều người thực hiện và có đồng phạm hay không, vai trò tính chất, mức độ tham gia của mỗi người trong vụ án đồng phạm để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. 8 - Xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội; kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, biện pháp phòng ngừa. Những nguyên nhân và điều kiện phạm tội chung của tình hình tội phạm đã được giải quyết trong tội phạm học, song nguyên nhân và điều kiện phạm tội trong tường hợp cụ thể thì phải được xác định, làm rõ trong quá trình điều tra.
Vì vậy, khi tiến hành điều tra cần phải thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và những nguyên nhân, điều kiện phạm tội để từ đó có biện pháp khắc phục thích hợp. - Xác định tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, kịp thời có biện pháp để đảm bảo cho việc bồi thường và khắc phục hậu quả. Luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan điều tra có quyền kiến nghị, yêu cầu các cơ quan khắc phục các thiếu xót trong quá trình quản lý con người, quản lý tài sản và quản lý xã hội. Để làm được việc này, CQĐT phải xác định được tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Những yêu cầu, kiến nghị của CQĐT phải được các cơ quan, các tổ chức và mọi người trong xã hội nghiêm chỉnh thực hiện và phải báo cáo các kết quả với cơ quan điều tra. Khái niệm, vị trí, chức năng của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm Kiểm sát viên Hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng trong TTHS ở Việt Nam bao gồm CQĐT, VKS, Tòa án. Mỗi cơ quan đều có vai trò nổi bật ở những giai đoạn tố tụng khác nhau.
Trong ba cơ quan nêu trên chỉ có duy nhất VKS là cơ quan tiến hành tố tụng tham gia xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Từ khi thành lập đến nay,VKS với đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức chuẩn mực đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân được tôn trọng; trật tự an ninh, an toàn xã hội được giữ vững. Đóng góp vào thành 9 tích đáng tự hào của VKS là hoạt động của đội ngũ Kiểm sát viên - những người đại diện trực tiếp cho VKS tham gia quá trình TTHS theo quy định của pháp luật. Nói tới vai trò là nói tới tác dụng, chức năng của ai hoặc của cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức, một quá trình, một sự việc.
Vai trò của một chủ thể được xác định từ tư cách, vị trí của chủ thể đó trong một tập thể, tổ chức, trong một quá trình, sự việc. Để xác định vai trò của Kiểm sát viên cần xuất phát từ cách tiếp cận về Kiểm sát viên trong một mối quan hệ nhất định, một thiết chế nhất định. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, “Kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan kiểm sát được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân” [8, tr. Từ điển Bách khoa toàn thư chỉ ra nội hàm của khái niệm Kiểm sát viên gồm ba nội dung: (1) là cán bộ của cơ quan kiểm sát - Kiểm sát viên ở đây có tư cách là một cán bộ trong thiết chế cơ quan kiểm sát; (2) được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật; (3) có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.
Tuy nhiên, nội dung thứ ba không còn phù hợp, không chính xác tại thời điểm hiện tại khi chức năng của VKS đã thay đổi, Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng của VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS. Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố” [30, tr. Khái niệm này chưa phản ánh rõ địa vị pháp lý của Kiểm sát viên mà chỉ thể hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức năng của VKS được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND tại thời điểm đưa ra khái niệm và không còn phù hợp với thời điểm hiện tại.