chương 1 là tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và tình hình nghiên cứu ở nước ngoài. Phần tình hình nghiên cứu ở Việt Nam, tác giả phân theo hai nhóm: (1) nhóm công trình đề cập khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm, (2) nhóm công trình có nội dung chuyên sâu về địa vị pháp lý của hội thẩm, và trong từng nhóm, tác giả chia theo các cấp độ khác nhau như công trình khoa học các cấp, các luận văn, sách chuyên khảo, các bài viết của các tạp chí có liên quan đến địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam. Phần tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả nêu một số công trình có liên quan đến địa vị pháp lý của hội thẩm, cách thức thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của hội thẩm để làm căn cứ cho việc xây dựng khung lý luận ở chương sau. Qua nghiên cứu cho thấy, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về địa vị pháp lý của hội thẩm.
Trong tất cả các cách tiếp cận khác nhau để đánh giá về địa vị pháp lý của hội thẩm, thì cách tiếp cận hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm đặt trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Chiến lược Cải cách tư pháp, đề cao tính dân chủ trong hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền con người, mang ý nghĩa chính trị và thời đại, cách tiếp cận này chưa được các công trình trên nghiên cứu một cách thấu đáo. Từ thực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài "Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần cung cấp các luận chứng khoa học cho việc kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị của hội thẩm, nâng cao chất lượng hoạt động xét xử. Có thể khẳng định đây là hướng nghiên cứu cho phép luận chứng được các giải pháp có tính cơ bản, lâu dài góp phần cho thành công trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 18 Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM 2.
Khái niệm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm 2. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm 2. Khái quát về hội thẩm Khi nói về vai trò của quần chúng nhân dân, triết học Mác-Lê nin đã khẳng định, quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính ra lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử. Xét các mặt trong đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần tư tưởng, thì quần chúng nhân dân là sức mạnh vật chất và mọi sự vận động lịch sử do quần chúng nhân dân trực tiếp tạo ra [8, tr.
Trên thế giới, việc công dân tham gia xét xử tại tòa án có lịch sử từ lâu đời, được ghi nhận lại ít nhất từ thời phong kiến. Sự tham gia của những người không chuyên với tư cách là bồi thẩm đoàn/thẩm phán không chuyên/hội thẩm (gọi chung là hội thẩm) là một trong những cách thức nhân dân tham gia vào quá trình xét xử. Tại một số nước những người không chuyên cũng được ngồi ghế chủ tọa và được tham gia vào việc quyết định bản án cùng với thẩm phán chuyên nghiệp (Cộng hòa Pháp) [93], [108]. Đây là các hình thức đưa ý kiến của nhân dân vào quá trình xét xử và nhân dân tham gia giám sát hoạt động tư pháp.
Hội thẩm được hiểu là một nhóm người không chuyên nghề luật được lựa chọn hoặc chỉ định tham gia giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, để ra các phán quyết về vấn đề tình tiết, vấn đề pháp lý và có thể về cả hình phạt và trách nhiệm pháp lý. Trong xã hội hiện đại, ở rất nhiều nước, không chỉ các thẩm phán chuyên nghiệp mới có quyền phán quyết mà hội thẩm, những người đại diện cho các tầng lớp dân cư đều có quyền tham gia vào hoạt động tư pháp tại tòa án. Công dân được tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử của tòa án dưới các hình thức khác nhau, tên gọi khác nhau như bồi thẩm, thẩm phán không chuyên, hội thẩm là tùy thuộc từng hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia. 19 Đại diện nhân dân tham gia trực tiếp vào quá trình xét xử là một nguyên tắc thể hiện rõ nét nhất bản chất dân chủ của một nền tư pháp tiến bộ, theo đó, mọi hoạt động của nhà nước đều có sự tham gia tích cực của nhân dân, đều đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của nhân dân.
Chế độ xét xử có sự tham gia của hội thẩm được coi là một trong những biểu hiện của tính xã hội, tính nhân dân của tòa án - cơ quan xét xử duy nhất, biểu tượng của nền công lý thuộc về nhân dân, công lý phải được người dân nhìn nhận và chấp nhận. Một phán quyết của tòa án đảm bảo được công bằng, bảo vệ được công lý hay không, phán quyết đó phải được nhân dân đồng tình ủng hộ. Sự tham gia của nhân dân vào quá trình đưa ra các phán quyết tư pháp bảo đảm cho các phán quyết tư pháp không chỉ tuân thủ pháp luật mà còn trên cơ sở những giá trị xã hội, giá trị cộng đồng, những quan điểm về đạo đức, về những hành vi mà pháp luật chưa ghi nhận đầy đủ và kịp thời. Đại diện nhân dân tham gia xét xử không chỉ dựa trên pháp luật mà dựa trên những giá trị xã hội để đánh giá tính chất tranh chấp của đương sự, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do bị cáo gây ra.
Là những người làm việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên họ có nhiều kinh nghiệm của thực tiễn đời sống cũng như hoạt động xã hội, vì vậy, họ gần gũi với quần chúng nhân dân, từ mối quan hệ đó, họ hiểu được nguyên nhân dẫn tới tranh chấp trong nhân dân cũng như hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội. Đại diện nhân dân tham gia tham gia xét xử sẽ giúp cho phán quyết của tòa án hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, công lý không chỉ là công bằng trên cơ sở pháp luật mà còn là lẽ phải và đạo đức xã hội. Tư pháp với ý tưởng về một nền công lý, đòi hỏi hoạt động xét xử của tòa án khi giải quyết các tranh chấp, các hành vi trái pháp luật xảy ra trong xã hội phải công bằng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự kỷ cương theo thể chế nhà nước mà Hiến pháp và pháp luật quy định. Tòa án là cơ quan quyền lực của nhà nước, nhà nước thông qua tòa án để thực hiện quyền lực tư pháp của mình.
Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ tài sản nhà nước, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Mọi quyết định của tòa án nhân danh nhà nước 20 phải tuân thủ pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Chế định hội thẩm chính là sự thể hiện tư tưởng "lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động tư pháp. Mô hình đại diện nhân dân tham gia xét xử sẽ góp phần đảm bảo tính toàn diện, đầy đủ và khách quan trong các phán quyết của tòa án.
Bằng sự hiểu biết của mình về kinh nghiệm sống, sự từng trải trong xã hội, về những lĩnh vực chuyên ngành., hội thẩm tham gia vào hoạt động xét xử sẽ làm tăng thêm niềm tin cho thẩm phán, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân. Hoạt động xét xử có đại diện nhân dân tham gia làm tăng tính thuyết phục của các phán quyết đối với xã hội, phán quyết của tòa án không phải là sự áp đặt của nhà nước mà là sự nhìn nhận của xã hội, của người dân đối với các tranh chấp, các hành vi phạm tội, sự nhìn nhận của người dân về công lý, công bằng và lẽ phải. Qua đó, làm tăng hiệu quả giáo dục, cải tạo đối với người bị kết án, đem tới sự tâm phục, khẩu phục cho các đối tượng bị phán xử. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử cũng chính là thể hiện sự giám sát, kiểm tra trực tiếp của nhân dân trong hoạt động tư pháp.
Nếu như coi nguyên tắc xét xử công khai là sự kiểm tra có tính chất tổng thể, chung nhất của xã hội đối với hoạt động xét xử của tòa án thì nguyên tắc hội thẩm tham gia xét xử là sự kiểm tra trực tiếp, cụ thể và từ bên trong của hoạt động này. Từ những phân tích trên, có thể hiểu hội thẩm là những người đại diện của nhân dân, được lựa chọn,được bầu theo quy định của pháp luật để cùng thẩm phán trực tiếp tham gia xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án để quyết định các vấn đề về sự kiện, quyết định các vấn đề về pháp luật hoặc hình phạt, nhằm đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, góp phần bảo vệ công lý, công bằng trong xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Khái niệm địa vị pháp lý của hội thẩm Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin về con người cho rằng, con người là thực thể thống nhất giữa cái tâm sinh lý và cái xã hội, là một thực thể sinh vật - xã hội. Toàn bộ đời sống và sinh hoạt của con người không tách khỏi 21 môi trường xã hội, nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội" [59, tr.
Có thể thấy rằng, tính đa dạng trong quan hệ xã hội của mỗi người đã tạo nên địa vị xã hội của người đó. Nếu xét ở một góc độ nào đó thì địa vị pháp lý cũng chính là một bộ phận nằm trong địa vị xã hội của con người, xác định vị trí của con người trong mối quan hệ với những người khác trong xã hội. Nghiên cứu Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “Địa vị” là: “Vị trí cá nhân trong quan hệ xã hội, do chức vụ, cấp bậc, quyền lực mà có, về mặt được coi trọng nhiều hay ít” [129, tr.