Chương 1: Những vấn đề lý luận về sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong xét xử các vụ án hình sự. Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong xét xử các vụ án hình sự và thực tiễn thực hiện ở tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Yêu cầu và giải pháp tăng cƣờng vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét xử các vụ án hình sự. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm về sự tham gia của Hội thẩm trong xét xử vụ án hình 1. Khái niệm sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong xét xử vụ án hình sự Theo Từ điển Tiếng Việt, Hội thẩm nhân dân đƣợc hiểu là “Đại biểu nhân dân cùng ngồi xử án với các Thẩm phán” [21, tr.370], nhƣ vậy, HTND là ngƣời do Hội đồng nhân dân - cơ quan đại diện của nhân dân bầu ra theo quy trình, thủ tục chặt chẽ theo thời hạn luật định để cùng với Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án xảy ra tại địa phƣơng mình. Cách tiếp cận này đã thể hiện cơ chế pháp lý hình thành nên HTND là thông qua hình thức bầu; thời gian thực hiện nhiệm vụ xét xử cùng với Tòa án của HTND không phải vĩnh viễn mà theo thời hạn nhất định; chức năng của HTND là cùng với Thẩm phán thực hiện hoạt động xét xử đối với các vụ án Tòa án đã thụ lý giải quyết. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thuộc Bộ Tƣ pháp thì HTND là “ngƣời đƣợc bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” [42, tr.
Theo Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, HTND là một chức danh để chỉ những ngƣời cùng tham gia với Thẩm phán trong HĐXX ở Tòa án khi tham gia xét xử [16, tr. Sự tham gia của HTND vào việc xét xử cùng với Tòa án lần đầu tiên đƣợc ghi nhận trong hệ thống pháp luật nƣớc ta tại Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 và trong Hiến pháp năm 1946 với tên gọi “Phụ thẩm nhân dân” [30, Điều 65]. Sự tham gia của HTND tiếp tục đƣợc ghi nhận trong các Hiến 7 pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật của nƣớc ta nhƣ Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH 11, ngày 04/10/2002 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về Thẩm phán và Hội thẩm TAND đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2011; Quy chế về Tổ chức và hoạt động động của Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2005; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, năm 1981, năm 1992, năm 2002 và năm 2014; BLTTHS năm 1988 (sửa đổi, bổ sung năm 2000), năm 2003 và năm 2015. Tuy nhiên, thuật ngữ HTND chỉ đƣợc định nghĩa tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND với nội dung nhƣ sau: Hội thẩm là ngƣời đƣợc bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” và tại Quy chế Tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm năm 2016 với nội dung: “Hội thẩm nhân dân là ngƣời đƣợc bầu theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án” [39, Điều 6], ngoài ra các văn bản khác đều không đƣa ra định nghĩa về HTND.
Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án là một trong những yếu tố truyền thống của hệ thống tƣ pháp, góp phần bảo đảm cho những giá trị bất biến của hệ thống tƣ pháp, đó là xác định sự thật, bảo vệ công lý, bảo đảm quyền đƣợc xét xử công bằng trên cơ sở các giá trị chung của cộng đồng và nguyên tắc độc lập xét xử. Thẩm phán, HTND xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, HTND [50, truy cập ngày 10/8/2023]. Theo đó, thực hiện chế độ xét xử vụ án hình sự có HTND tham gia và quy định địa vị pháp lý của HTND khi xét xử độc lập với Thẩm phán, chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp [26, Điều 103]. Việc đại diện nhân dân tham gia xét xử cũng chính là một kênh giám sát quá trình thực thi quyền lực nhà nƣớc, giám sát thực hiện quyền tƣ pháp và thậm chí là kiểm soát quyền lực Nhà nƣớc nếu các chủ thể đại diện nhân 8 dân tham gia xét xử thật sự đƣợc độc lập trong việc đƣa ra các nhận định và phán định của mình.
Sự tham gia của nhân dân vào quá trình đƣa ra các phán quyết tƣ pháp bảo đảm cho các phán quyết tƣ pháp không chỉ tuân thủ pháp luật mà còn trên cơ sở những giá trị xã hội/giá trị cộng đồng - những quan điểm về đạo đức, về hành vi chuẩn/lệch chuẩn mà pháp luật chƣa ghi nhận đầy đủ và kịp thời. Mặt khác, sự tham gia của HTND trong xét xử làm tăng cƣờng tính chất dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, HTND là những ngƣời đƣợc HĐND cùng cấp tín nhiệm bầu ra, thay mặt cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử các vụ án hình sự theo thủ tục sơ thẩm, đảm bảo cho hoạt động xét xử đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Sự tham gia của HTND trong cơ chế xét xử các vụ án hình sự cùng với Tòa án thể hiện rõ nét về sự tham gia quản lý nhà nƣớc, quản lý xã hội của nhân dân. Thông qua hoạt động xét xử các vụ án, HTND cùng với Thẩm phán chuyên nghiệp, để nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nƣớc và xã hội, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo các bản án của Tòa án đƣợc tuyên chính xác, khách quan, phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Nhƣ vậy, sự tham gia của HTND trong xét xử các vụ án hình sự có thể đƣợc hiểu là “người đại diện cho nhân dân, được bầu theo quy định của pháp luật để cùng Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của TAND theo quy định của BLTTHS; giúp Tòa án giải quyết kịp thời, đúng dắn các vụ án hình sự; phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”. Đặc điểm sự tham gia của Hội thẩm nhân dân trong xét xử vụ án hình sự Cùng với Thẩm phán, HTND là thành phần không thể thiếu đƣợc trong hoạt động xét xử mỗi vụ án, đảm bảo tính hiệu lực của bản án, quyết định giải 9 quyết vụ án. Sự tham gia của HTND thể hiện tính dân chủ, khách quan của hoạt động xét xử, góp phần đảm bảo hoạt động xét xử của Tòa án diễn ra công bằng, chính xác, hợp tình, hợp lý. Do đó, sự tham gia của HTND trong tố tụng hình sự mang những đặc điểm cụ thể nhƣ sau: - Hội thẩm nhân dân là một trong những chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Quan hệ pháp luật TTHS là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, do pháp luật TTHS điều chỉnh và một trong số các bên tham gia quan hệ này là cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng.
Tuy nhiên, một số quan hệ pháp luật liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhƣng nếu chúng nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của BLTTHS năm 2015 [28, Điều 7] hoặc không có sự tham gia của chủ thể TTHS cụ thể thì không thể gọi là quan hệ pháp luật TTHS. Trong quan hệ pháp luật TTHS Việt nam, chủ thể tố tụng đƣợc chia thành hai nhóm chủ yếu, đó là: Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng. Theo đó, ngƣời tiến hành tố tụng theo quy định tại Điều 34 BLTTHS năm 2015 bao gồm: Thủ trƣởng, Phó Thủ trƣởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng VKS, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thƣ ký Tòa án, Thẩm tra viên. Nhƣ vậy, HTND là một trong những ngƣời tiến hành TTHS, đồng thời cũng là chủ thể quan hệ pháp luật TTHS.
BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ chức danh cũng nhƣ nhiệm vụ, quyền hạn của từng chức danh này, nhất là đối với ngƣời tiến hành tố tụng, trong đó bao gồm HTND, đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động của họ đồng thời tạo điều kiện cho việc giám sát, kiểm sát hoạt động tố tụng. Với tƣ cách chủ thể là ngƣời tiến hành tố tụng, HTND đƣợc Nhà nƣớc 10 giao thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của TAND. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hành quyền tư pháp”. Quy định này khẳng định rằng, TAND là chủ thể thực hiện quyền tƣ pháp, nhân danh Nhà nƣớc tiến hành việc xét xử, đƣa ra bản án, quyết định giải quyết vụ án.
Bản án, quyết định đó thể hiện ý chí của nhân dân - thông qua hoạt động của HTND và tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của Nhà nƣớc, của cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ pháp luật TTHS. Đặc biệt, bản án, quyết định của TAND liên quan đến khách thể là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ. Do tính chất quan trọng nhƣ vậy, trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, HTND phải vô tƣ khách quan để cùng với Thẩm phán giải quyết vụ án một các đúng đắn, bảo vệ hiệu quả lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của những ngƣời tham gia tố tụng.
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của HTND đƣợc Nhà nƣớc quy định trong BLTTHS tƣơng ứng với chức danh này. Trong TTHS, khi đƣợc Chánh án TAND phân công tham gia giải quyết vụ án hình sự cụ thể, HTND tham gia vào HĐXX thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định tại Điều 46 BLTTHS năm 2015.