Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực Nhân lực, nguồn nhân lực là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, có rất nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về nhân lực tùy theo giác độ tiếp cận: a.
Khái niệm nhân lực Theo Giáo trình Nguồn nhân lực năm (2005) của PGS. TS Nguyễn Tiệp: “Nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nhân lực xã hội.” [7, 160] Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của Lê Thanh Hà: “Nhân lực được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người. Nó bao gồm cả thể lực và trí lực. Nó được thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc.
Nó bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng), trình độ (kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm) tâm lý mức độ cố gắng sức sáng tạo, lòng đam mê” [5, 18] Như vậy, có thể hiểu: Nhân lực là toàn bộ con người có khả năng lao động trong một tổ chức hoặc xã hội. Nhân lực là nguồn lực trong mỗi con người. Bao gồm khả năng thể chất, tinh thần được cá nhân sử dụng để duy trì và phát triển tổ chức. Khái niệm nguồn nhân lực Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của con người lao động.
Nó là tổng thể nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hay địa phương nào đó”. [6, 269] Tác giả Trần Kim Dung đưa ra khái niệm nguồn nhân lực là: “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành dựa trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”. [2, 7] Từ những khái niệm, quan điểm trên, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có 7 quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi tổ chức, địa phương, quốc gia. Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó.
Khái niệm đào tạo nhân lực Theo tác giả Lê Thanh Hà (2009): “Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thái độ của NLĐ nhằm xây dựng nhân cách cơ bản cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể tham gia lao động nghề nghiệp trong cuộc sống xã hội” [5, 183]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân đã đưa ra khái niệm về đào tạo như sau: “Đào tạo hay (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng) được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho NLĐ có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho NLĐ nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động để nâng cao trình độ, kỹ năng của NLĐ để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn” [4, 153]. Tóm lại, đào tạo nhân lực bao gồm việc trang bị cho người lao động trong tổ chức những kiến thức cần thiết, mài giũa kỹ năng và trau dồi phẩm chất nghề nghiệp để đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu công việc hiện tại và tương lai.
Đào tạo nhân lực ở trong khóa luận này được hiểu là đào tạo gắn với bồi dưỡng trong công việc và ngoài công việc để phát triển nhân lực của tổ chức. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Theo Giáo trình Kinh tế Nhân lực (2008) của Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Khánh: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai”. [1, 91] Theo Giáo trình Quản trị nhân lực (2010) của Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình cung cấp các kiến thức, hoàn thiện các kỹ năng, rèn luyện phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ ở hiện tại và trong tương lai”. [3, 82] 8 Tóm lại, đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động học tập có tổ chức, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, được thiết kế để hỗ trợ người lao động hiểu sâu hơn về chuyên môn và kỹ năng gắn với vị trí việc làm của họ, đồng thời cung cấp thêm kiến thức và kỹ năng để nâng cao hiệu suất công việc trong tương lai.
Mục đích và vai trò đào tạo nhân lực 1. Mục đích đào tạo nhân lực Sử dụng tối đa hiệu quả nguồn nhân lực: Đào tạo nguồn nhân lực góp phần trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp cho nguồn nhân lực, giúp họ đáp ứng yêu cầu của công việc trong hiện tại cũng như tương lai. Từ đó, giúp tìm kiếm, phát hiện những nhân tài, bù đắp sự thiếu hụt tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nói chung và hiệu quả sử dụng nhân lực khi thuyên chuyển, đề bạt, thay đổi nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức: Đào tạo nguồn nhân lực góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức thông qua cung cấp, trang bị kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, sơ cấp lý luận, chỉ số KPI… Phát triền nguồn nhân lực kế cận trong tổ chức: Thông qua thành tố phát triển sự nghiệp cho người lao động, đặt ra lộ trình công danh cụ thể cho người lao động giúp người lao động có những kế hoạch cá nhân, tham gia các hoạt động đào tạo và phát triển những kỹ năng trình độ phù hợp. Xây dựng đội ngũ kế cận từ việc tìm ra người kế nhiệm, đào tạo và chuyển giao quyền lực thành công. Các bước phát triển nhân lực kế cận cho tổ chức: Bước 1. Xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí của đội ngũ lãnh đạo, quản lý.
Tuyển chọn đội ngũ tham gia chương trình cán bộ nguồn. Thiết kế và thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nguồn. Chính sách “giữ chân” cán bộ tiềm năng. Vai trò đào tạo nhân lực Đào tạo nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức, người lao động và kinh tế xã hội.
Đối với tổ chức Góp phần thực hiện mục tiêu chung của tổ chức: đào tạo người lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức. Tạo ra sự chủ động thích ứng với các biến động và nhu cầu tương lai của tổ chức: Một trong những biện pháp để bù đắp sự thiếu hụt nhân lực là đào tạo người lao động để họ có năng lực thực hiện công việc. Trước những biến động, nhu cầu trong tương lai của tổ chức thì đào tạo và phát triển nhân lực là yếu tố giúp người lao động và tổ chức thích ứng với sự thay đổi. Nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức: ổn định về số lượng lao động trong tổ chức không phải sa thải, tuyển mới nhiều.
Tuy nhiên nếu người lao động đó không có sự thay đổi sẽ khiến tổ chức tụt hậu, thì đào tạo sẽ giúp người lao động có thêm kiến thức mới. kỹ năng mới, luôn năng động để xử lý tình huống khi đứng trước biến động kinh tế. Đào tạo nhân lực tạo điều kiện cho việc áp dụng khoa học – kĩ thuật vào quản lý vận hành doanh nghiệp: học tập quy trình của tổ chức khác, giúp người lao động có khả năng vận hàng quy trình. Đồng thời tạo ra lợi thế cạnh tranh về nhân lực của tổ chức mình so với tổ chức khác.
Đối với người lao động Đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của người lao động, kích thích họ vươn lên đỉnh cao sự nghiệp: Qua đào tạo người lao động cảm thấy được quan tâm, phát triển bản thân sẽ tập trung vào công việc hiện tại, thực hiện công việc tốt hơn. Đồng thời, qua đó cũng sẽ nâng cao sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp Giúp người lao động nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ, xây dựng- hình thành tính chuyên nghiệp trong công việc: cách nhìn, cách tư duy mới của người lao động là cơ sở để họ phát huy tính sáng tạo trong công việc nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh doanh. Sản xuất kinh doanh của tổ chức ngày càng tăng, cũng kéo theo việc người lao động có thể tăng ca, làm thêm giờ, tăng thu nhập và chế độ đãi ngộ cũng sẽ được tăng lên, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động. 10 Giúp người lao động trang bị các kiến thức, kỹ năng cần thiết để thích ứng với những sự biến đổi môi trường công việc ở hiện tại và tương lai: Trong bối cảnh hiện nay các tổ chức ngày càng cạnh tranh gay gắt về chất lượng dịch vụ, chủng loại sản phẩm, mẫu mã,…để có thể duy trì và phát triển buộc các tổ chức phải có sự thay đổi để phù hợp với bối cảnh như áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất kinh doanh.
Từ đó cũng yêu cầu người lao động phải nâng cao trình độ, kỹ năng của bản thân. Vì vậy đào tạo nhân lực là vô cùng cần thiết nhằm thích ứng với điều kiện mới. Giúp người lao động hiểu rõ được công việc, chức năng, nhiệm vụ của bản thân: Giúp họ hiểu được cần phải làm gì, không nên làm gì. Tạo cơ hội phát triển và thăng tiến cho người lao động.
Đối với xã hội Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế: Đào tạo nhân lực còn là cơ sở để xã hội có nguồn nhân lực chất lượng cao, hạn chế tối đa tình trạng thất nghiệp, tránh các tệ nạn xã hội. Từ đó góp phần xóa đói giảm nghèo và đảm bảo công bằng xã hội, tạo ra một xã hội học tập, hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo quốc dân.