Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm, đặc điểm về nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một khái niệm rất phổ biến, bất kể lĩnh vực nào cũng cần có nguồn nhân lực để duy trì hoạt động. Tuy nhiên, theo nhiều quá trình phát triển và các công trình nghiên cứu khác nhau, nguồn nhân lực được nhìn nhận với nhiều góc độ và mang tính cá nhân của từng nghiên cứu.
Liên Hợp Quốc định nghĩa rằng “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển Kinh tế-Xã hội trong một cộng đồng”(1). Định nghĩa này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực do nó xuất phát từ tác động của toàn cầu hóa với nhân lực và được đánh giá cao khi cho rằng tiềm năng của con người cũng là một thước đo có thể tận dụng để phát triển trong công việc. Theo quan điểm của Phạm Minh Hạc (trích dẫn trong Nguyễn Thị Hà Vi, 2022) chỉ ra rằng trong chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX – 07 thì cho rằng “nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất”. Lúc này nguồn nhân lực là sự tổng hòa chất lượng và số lượng nguồn nhân lực.
Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2013), thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” .Theo góc độ này có thể thấy nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp đạt được lợi nhuận mong muốn hay không. Như vậy có thể thấy trong nhiều nghiên cứu khác nhau, các lý giải về nguồn nhân lực cũng khác nhau. Nhưng nhìn chung, các định nghĩa đều cho rằng nguồn nhân lực là tổ hợp của sức lực, trí lực và tâm lực. Có thể nói, nguồn nhân lực chính là toàn bộ tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, hay một quốc gia.
3 Không chỉ đơn thuần là toàn bộ lực lượng lao động có và đang có ở hiện tại hay tương lai của tổ chức mà nguồn nhân lực còn thúc đẩy khả năng lao động và sáng tạo, phát triển đạo đức tốt đẹp để đạt được mục tiêu mà tổ chức đề ra, giúp tổ chức phát triển vững mạnh. Một tổ chức muốn hoạt động lâu dài, hiệu quả thì phải biết sử dụng hợp lý, biết cách giữ gìn, khai thác và phát triển các tiềm năng của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng hai yếu tố: Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động của nguồn nhân lực đó. Phẩm chất đạo đức ở đây mang tính cá nhân và biểu hiện qua ý thức, thái độ hay tác phong làm việc,.
Tiêu chí này rất khó đo lường vì mang tính khách quan và bị nhiều tác động khác từ bên ngoài chi phối. Thực tế cũng chưa có thống kê nào nói về phẩm chất đạo đức ảnh hưởng thế nào đến chất lượng nguồn nhân lực. Còn năng lực hoạt động ở đây có thể nói đến bằng cấp, học vị, kỹ năng giải quyết công việc,. có được thông qua quá trình đào tạo, làm việc lâu dài, tích lũy kinh nghiệm.
Về cơ bản năng lực hoạt động có thể đo lường dễ dàng hơn so với phẩm chất đạo đức. Theo Trần Xuân Cầu (2014) thì “Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, phẩm chất cá nhân”. Với nghiên cứu này việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực không yêu cầu các tiêu chí trên là bắt buộc mà chỉ là “xem xét” vì vậy có thể có những tiêu chí được đánh giá và có những tiêu chí không được đánh giá. Từ những ví dụ trên có thể thấy tiêu chí để đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa được thống nhất mà chủ yếu là các tiêu chí định lượng như: năng lực, sức khỏe, trình độ,.
Vì vậy trong luận văn này, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá giới hạn trong ba tiêu chí là: Trí lực, thể lực, tâm lực hay còn gọi là phẩm chất cá nhân của người lao động để thể hiện đơn giản nhất quan hệ của các yếu tố cấu thành nên bản chất của nguồn nhân lực. Cụ thể, trí lực là kỹ năng làm việc, trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn được đào tạo, tích góp; thể lực là sức khỏe về thể chất để có thể hoàn thành công việc bằng cách áp dụng trí lực; tâm lực chính là thái độ làm việc, khả năng chịu áp lực, tinh thần và trạng thái cảm xúc được biểu hiện bằng hành động.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng ở đây là dùng một số phương pháp cả hữu hình lẫn vô hình để dẫn đến sự thay đổi tốt hơn của chất lượng nguồn nhân lực hiện có. Tổng thể là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành lao động có năng lực và phẩm chất cao mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế xã hội. Từ góc độ này, tác giả cho rằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng xử lý công việc và thái độ trong công việc của nhân lực đang làm việc.
Từ góc độ này, có thể thấy rằng nâng cao chất lượng NNL cụ thể là nâng cao các vấn đề sau: +Nâng cao trí lực: Bao gồm trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng làm việc, kinh nghiệm làm việc.Đây là yếu tố quyết định căn bản đến năng lực làm việc, chính là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. +Nâng cao thể lực: Bao gồm sức khỏe, thể chất. Sức khỏe không chỉ là biểu hiện của chất lượng nguồn nhân lực mà còn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công việc. +Nâng cao tâm lực: Gồm thái độ, tinh thần, khả năng chịu áp lực.
Nhân tố này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và rất khó để đo lường, ảnh hưởng trước hết là từ trí lực của nguồn nhân lực đến môi trường sống và làm việc của nguồn nhân lực.4 Đặc điểm của nguồn nhân lực trong tổ chức Nguồn nhân lực của tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo mục tiêu nhất định.Theo Nguyễn Tiệp (2005) thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Trong phạm vi nghiên cứu khái niệm về nguồn nhân lực trong tổ chức được hiểu như sau: Nguồn nhân lực trong tổ chức là toàn bộ lực lượng lao động được đặc trưng bởi các yếu tố số lượng, cơ cấu, chất lượng và phẩm chất của người lao động trong tổ chức đó. 5 Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh.
Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực là tổng thể nguồn lực từng cá nhân con người. Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
Qua những nhận định trên thấy được rằng nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả các thành viên là con người hay nguồn lực tham gia vào quá trình hoạt động của tổ chức đó. Có đủ các yếu tố về mặt thể lực và trí tuệ để có khả năng đáp ứng được công việc và mục tiêu tổ chức đặt ra. Muốn phát triển bền vững và lâu dài, trở thành doanh nghiệp có vị thế trong ngành thì mỗi công ty phải có cho mình những mục tiêu và cách để đạt được mục tiêu ấy một cách có kế hoạch và cụ thể. Để đạt được điều này trước tiên phải có nguồn nhân lực nòng cốt đủ chất lượng, hiểu rõ về lĩnh vực công việc, nhân phẩm tốt.
Đó là điều tất yếu quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Dựa vào mặt đặc thù của lĩnh vực kinh doanh của các công ty cổ phần thương mại và dịch vụ, trong luận văn này chất lượng nguồn nhân lực sẽ có đặc điểm như sau: +Về kiến thức: trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có đối tượng là dịch vụ, diễn ra giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ, quá trình này xảy ra liên tục và có quan hệ mật thiết với nhau. Đồng thời phạm vi hoạt động cũng rộng, từ dịch vụ cho tiêu dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân,. Vì vậy đòi hỏi nhân viên phải hiểu biết và có kiến thức tổng hợp của nhiều ngành sản xuất kinh doanh, các loại hình đặc thù và cách quản lý,.
thậm chí là tập tính, văn hóa của các khu vực. +Về năng lực: Trong lĩnh vực này nhân viên cần năng động, sáng tạo, suy nghĩ thấu đáo và biết nắm bắt thời cơ để thấu hiểu được tâm lý khách hàng. Bởi quá trình 6 sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, dịch vụ là sản phẩm vô hình không nhìn thấy nhưng lại được cảm nhận qua quá trình tiêu dùng của khách hàng mà mỗi khách hàng lại có cảm nhận khác nhau. Vì vậy việc đánh giá hiệu quả cũng phức tạp hơn.
+Về phong cách: thương mại và dịch vụ là một ngành thu hút đông đảo người tham gia với nhiều trình độ khác nhau, từ kinh doanh cá nhân nhỏ lẻ, đến đại lý cửa hàng đến lao động chất xám có trình độ cao như chuyên gia tư vấn, giáo dục… Vì vậy người làm dịch vụ cần có phong cách tự tin, quyết đoán, chứng chạc, tạo được niềm tin cho khách hàng.