CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định hướng chung về hoạt động trải nghiệm trong dạy học 1. Hoạt động Theo từ điển Tiếng Việt, hoạt động [24, tr.562]: + Là vận động, cử động, thường nhằm một mục đích nào đó; + Là thực hiện một chức năng nào đó trong một chỉnh thể; + Là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích chung, trong một lĩnh vực nhất định.18], HĐ là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài, giữa mình với người khác, giữa mình với bản thân. Trong quá trình quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau.1], HĐ “là một tổ hợp các quá trình con người tác động vào đối tượng nhằm đạt mục đích thỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả của hoạt động là sự cụ thể hóa nhu cầu của chủ thể”.2], Lý thuyết về quan niệm cuộc đời con người là chuỗi hoạt động.
Có thể chia hoạt động con người thành 2 loại: hoạt động đơn phương và hoạt động tương tác. HĐ đơn phương là hoạt động của chủ thể tác động đến một đối tượng nhất định để đem lại kết quả nào đó. HĐ tương tác là hoạt động diễn ra giữa các cá nhân hay nhóm (tổ chức) xã hội. Trên lĩnh vực khoa học sư phạm, “Các hoạt động dạy- học là các hoạt động cùng nhau của thầy và trò”.
Hoạt động dạy học Theo [15, tr.2], Hoạt động dạy học là hoạt động tương tác có tính đặc thù.2], Hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm 7 hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. GV xây dựng, thiết kế HĐ dạy học một cách đầy đủ và cụ thể bao nhiêu thì công việc dạy học càng hiệu quả bấy nhiêu.3] “Các hoạt động dạy- học là các HĐ cùng nhau của thầy và trò” đã chỉ ra sự tương tác trong hoạt động dạy học mang tính đặc thù.Nói là đặc thù vì, thứ nhất, hoạt động dạy học nằm trong chuỗi hoạt động của con người nhưng là hoạt động nghề nghiệp, không phải là hoạt động của mọi người.Người hoạt động dạy học phải có tiêu chuẩn và năng lực nghề nghiệp mới tham gia được hoạt động này. Thứ hai, hoạt động dạy học là hoạt động tương tác. GV tác động vào HS, HS phát triển, GV căn cứ vào sự thay đổi ở HS để điều chỉnh hoạt động dạy.
Thứ ba, hoạt động dạy học nhìn từ phía hoạt động của người thầy trong tương tác với họat động học của trò là hướng dẫn, tổ chức và điều khiển hoạt động học của HS. Theo [21], Trong cuốn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, các tác giả đã định nghĩa hoạt động dạy học như sau: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động của trẻ nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng”. Hoạt động trải nghiệm a. Khái niệm hoạt động trải nghiệm Hoạt động trải nghiệm hầu hết các nước phát triển đều quan tâm, nhất là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực; giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng sốngnhư: Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Australia,…[8].3], Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục được thực hiện bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12; ở tiểu học được gọi là hoạt động trải nghiệm, ở trung học cơ sở và trung học phổ thông được gọi là hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.30], Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai.
Theo [11], Hoạt động trải nghiệm là một biểu hiện của hoạt động giáo dục đang tồn tại trong chương trình giáo dục hiện hành. Hoạt động trải nghiệm là hoạt động mang tính xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để học sinh tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực, nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động day học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục.39], “Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó HS dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kĩ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và tham gia HĐ phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của HĐ này: năng lực thiết kế và tổ chức HĐ; năng lực thích ứng với sự biến động của nghề nghiệp và cuộc sống”. Nhìn chung, dù được diễn đạt bằng những cách khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất ở một quan điểm: coi hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, được tổ chức theo phương thức trải nghiệm nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh. 9 Như vậy hoạt động trải nghiệm được coi là một không gian giáo dục trong nhà trường phổ thông, trong đó có sự tích hợp nội dung học tập trong nhà trường từ các môn học gắn với kinh nghiệm của bản thân học sinh trong cuộc sống và năng lực sở trường của học sinh trong từng lĩnh vực để thích nghi với cuộc sống đang diễn ra bên trong và bên ngoài nhà trường.
Đó cũng là không gian để tổ chức các hoạt động giáo dục đa dạng như giáo dục định hướng nghề nghiệp, các hoạt động giáo dục phát triển năng lực đặc thù cho các nhóm học sinh, gắn hoạt động của nhà trường với cuộc sống, tạo sự liên kết đa dạng giữa các môn học trong những tình huống thực tiễn, xây dựng các giá trị cuộc sống cho công dân theo định dướng các kĩ năng mềm mà trong các môn học không thể chuyển tải được, tổ chức các hoạt động giáo dục định hướng công dân… Đặc biệt không gian của hoạt động trải nghiệm cũng được tối ưu hóa qua việc dạy học bộ môn khi tổ chức các hoạt động khám phá khoa học, phát huy năng lực sáng tạo cần không gian và thời gian lớn vượt ngoài khuôn khổ cho phép của từng môn học riêng lẻ. Hoạt động trải nghiệm có thể có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau nhưng đều có các đặc trưng sau: - Tính tham gia trực tiếp của học sinh vào từng hoạt động. - Tính tự chủ của học sinh trong kế hoạch và hành động của cá nhân. - Tính tập thể của học sinh.
- Tính tiếp cận với môi trường cuộc sống trong và ngoài nhà trường. - Tính sáng tạo để thích ứng và tạo ra cái mới, giá trị mới cho bản thân. - Tính công dân có trách nhiệm khi đặt người học vào các tình huống mới. - Học sinh được khẳng định giá trị bản thân qua huy động kinh nghiệm và năng lực của mình.
- Học sinh hình thành các ý thức, phẩm chất và sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội. 10 - Học sinh được tiếp cận với các giá trị cuộc sống trong các tình huống thực tiễn. Qua đó, chúng tôi thống nhất chung về khái niệm HĐTN là: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc xã hội qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các nâng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tìm năng sáng tạo của cá nhân. Bản chất của hoạt động trải nghiệm Theo [16], Bản chất của HĐTN là hoạt động giáo dục được tổ chức theo con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, hình thành và phát triển cho học sinh niềm tin, tình cảm năng lực cần có của người công dân trong tương lai.
Học từ trải nghiệm là quá trình học, theo đó kiến thức, thái độ, năng lực được tạo ra thông qua việc hình thành, chuyển hóa kinh nghiệm: Kinh nghiệm cũ kết hợp với tình huống mới và thử nghiệm mới sẽ hình thành kinh nghiệm mới. Ví dụ: Hình thành quy tắc tính diện tích hình bình hành trên cơ sở cách tính diện tích hình chữ nhật. - Yêu cầu: HS tự tìm tòi, xây dựng được quy tắc tính diện tích hình bình hành dựa vào mối quan hệ giữa hình bình hành và hình chữ nhật. - Cách thực hiện: + Bước 1: GV yêu cầu HS vẽ một hình chữ nhật và nêu quy tắc tính diện tích hình chữ nhật.
HS vẽ hình chữ nhật và nêu quy tắc tính diện tích hình chữ nhật. + Bước 2: GV giới thiệu và vẽ hình bình hành trên bảng (theo hình vẽ) 11 GV: Vậy muốn tính diện tích hình bình hành dựa trên cơ sở hình chữ nhật thì các em làm thể nào để hình bình hành trở thành hình chữ nhật? Bước 3: HS cắt (tách) và sau đó ghép lại để trở thành hình chữ nhật. HS: Có thể thực hiện theo (hình vẽ): Trước khi cắt Sau khi ghép lại Bước 4: HS trình bày kết quả đã thực hiện. Từ đó học sinh rút ra kết luận tính diện tích hình bình hành dựa trên cở sở hình chữ nhật.
Thông qua trải nghiệm thực hành từ tình kinh nghiệm cũ “đã biết cách tính diện tích hình chữ nhật”. Kết hợp với tình huống mới là làm thế nào để tính được diện tích hình bình hành. Thử nghiệm mới là: “Cắt hình bình hành và ghép lại để trở thành hình chữ nhật” c. Vai trò của hoạt động trải nghiệm Theo [26], Tri thức được hình thành bền vững và sâu sắc.
Học tập qua trải nghiệm là cách học bằng tìm tòi, khám phá.