Luận án về dạy học toán cho sinh viên khối ngành kinh tế theo tiếp cận CDIO

Tài liệu nghiên cứu Luận án dạy học toán cho sinh viên khối ngành kinh tế theo tiếp cận cdio nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

237
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG DẠY HỌC TOÁN THEO TIẾP CẬN CDIO THEO ĐỊNH HƢỚNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG

1.1. Khái quát về khảo sát thực trạng

1.2. Phương pháp và công cụ

1.3. Về vai trò của môn Toán đối với khối ngành kinh tế

1.4. Về các yếu tố gây khó khăn trong việc xin việc làm của sinh viên khối ngành kinh tế

1.5. Về yêu cầu và mức độ đáp ứng của các nội dung kiến thức Toán cần trang bị cho sinh viên khối ngành kinh tế

1.6. Về thực trạng kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên thông qua học tập môn Toán

1.7. Về thực trạng tiếp cận CDIO trong dạy học Toán cho sinh viên khối ngành kinh tế theo hướng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp

2. CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP DẠY HỌC TOÁN THEO TIẾP CẬN CDIO NHẰM ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA

2.1. Thiết kế dạy học Toán theo tiếp cận CDIO nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra

2.2. Vận dụng chu trình Kolb thiết kế dạy học các học phần Toán cho sinh viên khối ngành kinh tế

2.3. Quy trình thiết kế dạy học các học phần Toán cho sinh viên khối ngành kinh tế

2.4. Hướng dẫn tổ chức dạy học

2.5. Hướng dẫn đánh giá kết quả

2.6. Một số biện pháp dạy học Toán theo tiếp cận CDIO nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra

2.6.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp

2.6.2. Một số biện pháp dạy học Toán theo tiếp cận CDIO nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức, nội dung thực nghiệm

3.2. Mục đích thực nghiệm

3.3. Yêu cầu thực nghiệm

3.4. Nhiệm vụ thực nghiệm

3.5. Các nguyên tắc tổ chức thực nghiệm

3.6. Nội dung thực nghiệm

3.7. Thời gian, đối tượng, quy trình, phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.8. Thời gian, đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.9. Quy trình, cách thức triển khai nội dung TN

3.10. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm

3.11. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.12. Thực nghiệm sư phạm đợt 1 (Từ tháng 10/2016 đến tháng 1/2017)

3.13. Thực nghiệm sư phạm đợt 2 (Từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2017)

4. CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dạy học toán cho sinh viên kinh tế theo tiếp cận CDIO

Dạy học toán cho sinh viên kinh tế theo tiếp cận CDIO là một phương pháp giáo dục hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng chuẩn đầu ra của sinh viên. Tiếp cận CDIO (Conceive, Design, Implement, Operate) không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà còn chú trọng đến việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên. Việc áp dụng phương pháp này trong dạy học toán giúp sinh viên không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Theo đó, giáo viên cần thiết kế các bài học sao cho sinh viên có thể tham gia vào quá trình học tập chủ động, từ đó nâng cao năng lực giải quyết vấn đề và khả năng tư duy phản biện.

1.1. Tầm quan trọng của môn toán trong khối ngành kinh tế

Môn toán đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng kiến thức cho sinh viên khối ngành kinh tế. Toán học không chỉ giúp sinh viên phát triển tư duy logic mà còn là công cụ hữu hiệu trong việc phân tích và giải quyết các vấn đề kinh tế phức tạp. Việc học toán giúp sinh viên hiểu rõ hơn về các mô hình kinh tế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn công việc sau này. Hơn nữa, toán học còn giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng phân tích số liệu, một kỹ năng cần thiết trong môi trường làm việc hiện đại. Do đó, việc dạy học toán theo tiếp cận CDIO là cần thiết để đảm bảo sinh viên có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

II. Phương pháp dạy học toán theo tiếp cận CDIO

Phương pháp dạy học toán theo tiếp cận CDIO bao gồm việc thiết kế các hoạt động học tập nhằm khuyến khích sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học. Các hoạt động này có thể bao gồm thảo luận nhóm, dự án thực tế và các bài tập ứng dụng. Giáo viên cần tạo ra môi trường học tập khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện của sinh viên. Việc áp dụng các công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng là một yếu tố quan trọng, giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và xử lý thông tin. Đặc biệt, việc sử dụng các phần mềm mô phỏng và phân tích số liệu sẽ giúp sinh viên có cái nhìn thực tế hơn về các vấn đề kinh tế. Qua đó, sinh viên không chỉ học được kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết cho công việc sau này.

2.1. Thiết kế bài học theo chu trình CDIO

Thiết kế bài học theo chu trình CDIO bao gồm bốn bước chính: Hình thành ý tưởng, Thiết kế, Triển khai và Vận hành. Trong bước đầu tiên, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu học tập và các kỹ năng cần thiết mà sinh viên cần đạt được. Tiếp theo, trong bước thiết kế, giáo viên sẽ xây dựng kế hoạch bài học, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp và chuẩn bị tài liệu học tập. Bước triển khai là giai đoạn thực hiện bài học, trong đó sinh viên sẽ tham gia vào các hoạt động học tập thực tế. Cuối cùng, trong bước vận hành, giáo viên sẽ đánh giá kết quả học tập của sinh viên và điều chỉnh phương pháp dạy học nếu cần thiết. Việc áp dụng chu trình CDIO trong dạy học toán sẽ giúp sinh viên phát triển toàn diện cả về kiến thức lẫn kỹ năng.

III. Đánh giá hiệu quả dạy học toán theo tiếp cận CDIO

Đánh giá hiệu quả dạy học toán theo tiếp cận CDIO là một phần quan trọng trong quá trình giảng dạy. Việc đánh giá không chỉ dựa trên kết quả học tập của sinh viên mà còn dựa trên sự phát triển kỹ năng nghề nghiệp của họ. Các phương pháp đánh giá có thể bao gồm kiểm tra, bài tập nhóm, dự án thực tế và phản hồi từ sinh viên. Đặc biệt, việc thu thập ý kiến phản hồi từ sinh viên sẽ giúp giáo viên hiểu rõ hơn về những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình học tập. Từ đó, giáo viên có thể điều chỉnh phương pháp dạy học để phù hợp hơn với nhu cầu của sinh viên. Đánh giá hiệu quả dạy học không chỉ giúp nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn góp phần vào việc cải thiện chương trình đào tạo của trường.

3.1. Các chỉ số đánh giá hiệu quả

Các chỉ số đánh giá hiệu quả dạy học toán theo tiếp cận CDIO có thể bao gồm tỷ lệ sinh viên đạt yêu cầu, mức độ hài lòng của sinh viên với phương pháp dạy học, và sự tiến bộ trong kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên. Tỷ lệ sinh viên đạt yêu cầu cho thấy mức độ tiếp thu kiến thức của sinh viên, trong khi mức độ hài lòng phản ánh sự phù hợp của phương pháp dạy học với nhu cầu của sinh viên. Sự tiến bộ trong kỹ năng nghề nghiệp có thể được đánh giá thông qua các bài kiểm tra kỹ năng thực tế hoặc phản hồi từ các nhà tuyển dụng. Việc sử dụng các chỉ số này sẽ giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan về hiệu quả dạy học và từ đó có những điều chỉnh cần thiết.

25/01/2025
Luận án dạy học toán cho sinh viên khối ngành kinh tế theo tiếp cận cdio nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, bảng, biểu, luận án gồm bốn chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận Chƣơng 2. Thực trạng dạy học Toán theo tiếp cận CDIO theo định hƣớng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên khối ngành kinh tế ở trƣờng Đại học Lạc Hồng Chƣơng 3. Biện pháp dạy học Toán theo tiếp cận CDIO nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra Chƣơng 4.

Thực nghiệm sƣ phạm 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm, thuật ngữ chính đƣợc dùng trong luận án 1. CDIO CDIO là viết tắt của cụm từ tiếng Anh: Conceive – Design – Implement – Operate, nghĩa là: Hình thành ý tƣởng, thiết kế ý tƣởng, thực hiện và vận hành. CDIO là một đề xƣớng của các khối ngành kỹ thuật thuộc ĐH Kỹ thuật Massachusetts, Mỹ, phối hợp với các trƣờng đại học Thụy Điển.

Tiếp cận CDIO Đây là một giải pháp nâng cao chất lƣợng đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội trên cơ sở xác định CĐR để thiết kế chƣơng trình và phƣơng pháp đào tạo theo một quy trình khoa học. CDIO đƣợc xây dựng một cách hợp lý, logic và về phƣơng pháp tổng thể mang tính chung hóa có thể áp dụng để xây dựng quy trình chuẩn cho nhiều lĩnh vực đào tạo khác nhau ngoài ngành kỹ sƣ (với những sự điều chỉnh, bổ sung cần thiết), trong đó có khối ngành KT và quản trị kinh doanh [57]. Theo website chính thức của tổ chức CDIO, tầm nhìn của CDIO hƣớng tới việc: Tích hợp các KNNN nhƣ làm việc nhóm và giao tiếp; Đề cao việc học tập chủ động và trải 9 nghiệm; Liên tục cải tiến thông qua quy trình đảm bảo chất lƣợng với mục tiêu cao; Làm phong phú khóa học với các dự án do SV tự thiết kế – xây dựng và kiểm thử. Có thể hiểu, tiếp cận CDIO hƣớng tới đào tạo SV phát triển toàn diện cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực thực ti n (năng lực C-D-I-O) và có ý thức trách nhiệm với xã hội [122].

Kỹ năng Đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về KN, tùy vào cách tiếp cận. Chẳng hạn: theo [118], “KN là khả năng để làm tốt một công việc nào đó thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm”. Theo đó, KN đƣợc hiểu là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác, động tác trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó. Theo [35], KN là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ.

Theo [39], KN là dạng hành động tự giác, được thực hiện có kĩ thuật, dựa và những điều kiện sinh học, tâm lí và xã hội ở cá nhân, và có kết quả nhất định đáp ứng mục tiêu hay chuẩn đã định trước. Có kĩ thuật tức là không tùy tiện, mà tuân theo trình tự, quy tắc và yêu cầu kỹ thuật. KN bậc thấp là khả năng thực hiện đúng hành động, phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể. Ở bậc này có những KN hình thành không cần qua luyện tập, nếu biết tận dụng hiểu biết và KN tƣơng tự đã có để chuyển sang các hành động mới.

KN bậc cao là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo linh hoạt, sáng tạo phù hợp với những mục tiêu trong những điều kiện khác nhau. Để đạt tới KN này cần trải qua giai đoạn luyện tập các KN đơn giản, sao cho mỗi khi hành động, ngƣời ta không còn bận tâm nhiều đến thao tác nữa vì nhiều thao tác đã tự động hóa. Qua tìm hiểu một số quan niệm về KN, có thể rút ra những đặc điểm chung về KN nhƣ sau: - KN là tổ hợp của hàng loạt các yếu tố hợp thành nhƣ tri thức, KN, kỹ xảo đã có; - KN có tính linh hoạt và có thể di chuyển từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác; KN có tính kĩ thuật, tức là có cấu trúc thao tác và trình tự tổ chức các thao tác đó; 10 - KN đƣợc hình thành do luyện tập trong quá trình hoạt động của con ngƣời. KN đƣợc hình thành qua 05 giai đoạn (Hình 1.2): - Giai đoạn bắt chƣớc: Chỉ hành động theo mẫu; - Giai đoạn làm đƣợc: Hiểu nhiệm vụ, quy trình làm việc nhƣng còn có những sai sót, thời gian hoàn thành chậm và đôi khi còn cần có sự chỉ dẫn; - Giai đoạn làm chính xác: Làm việc theo quy trình, chính xác và hoàn thiện công việc nhanh chóng; - Giai đoạn hình thành kỹ xảo: KN đƣợc tự động hoá, trên cơ sở đó hình thành nên kỹ xảo; - Giai đoạn làm biến hóa: Thể hiện khả năng di chuyển KN sang các tình huống mới hoặc hình thành các KN phức tạp.

Các giai đoạn hình thành KN Nhƣ vậy có thể thấy mặc dù có những quan niệm khác nhau về KN, nhƣng các nhà khoa học đều cho rằng KN là một quá trình tâm lý, đƣợc hình thành khi con ngƣời áp dụng kiến thức vào TT. KN có được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. KN theo nghĩa hẹp hàm chỉ đến những thao tác, hành động của chủ thể con người. KN hiểu theo nghĩa rộng hướng nhiều đến khả năng, đến năng lực của con người.

Kỹ năng nghề nghiệp KN trong một nghề cụ thể, theo nghĩa hẹp cũng thƣờng đƣợc hiểu là KN nghề, hàm chỉ đến thao tác, hành động của con ngƣời trong nghề đó. 11 Tiếp cận năng lực thực hiện (competence), KN là một thành tố quan trọng trong ba thành tố tạo nên năng lực của con ngƣời (kiến thức, KN và thái độ). Theo tiếp cận này, không chỉ đề cập khả năng của con ngƣời để làm tốt một công việc nào đó, mà còn nhấn mạnh đến KN, sự hòa quyện nhuần nhuy n của cả kiến thức, KN, thái độ để giúp con ngƣời thực hiện một công việc nào đó nhƣ mong đợi. KNNN (professional skills hoặc vocational skills) là thuật ngữ có nguồn gốc từ thuật ngữ KN (skill), nhƣng nội hàm đƣợc mở rộng theo hƣớng khả năng và năng lực thực hiện của con ngƣời.

“Năng lực thực hiện” là thuật ngữ đƣợc dịch từ tiếng Anh (Competency hay Competence) dùng trong các tài liệu của nhiều tác giả khi trình bày về quan điểm GD, đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện. Theo quan niệm này, năng lực thực hiện đƣợc coi là sự tích hợp nhuần nhuyễn của ba thành tố kiến thức, KN, thái độ cần thiết để hoàn thành được từng công việc cụ thể của nghề, chứ không phải là sự tồn tại độc lập giữa chúng với nhau và ít liên quan đến công việc của nghề [37]. Nếu KN thuần túy đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, hƣớng tới thao tác, khả năng hoạt động cụ thể thì KNNN đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hƣớng tới khả năng, năng lực thực hiện hành động của con ngƣời trong các lĩnh vực nghề nghiệp. Trong hoạt động nghề nghiệp, con ngƣời luôn biểu hiện những khả năng nhất định để thực hiện công việc nào đó.

Khi thực hiện những hoạt động ấy, con ngƣời cần phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết tƣơng ứng với hoạt động, có khả năng tập trung chú ý, tƣ duy, tƣởng tƣợng. Tất cả những yếu tố đó biểu hiện khả năng thực hiện hoạt động nghề nghiệp của con ngƣời. Có ngƣời gọi đó là KNNN, có ngƣời gọi là năng lực nghề nghiệp, có ngƣời đơn giản chỉ gọi là KN. Do vậy, KNNN phải đƣợc hiểu theo nghĩa rộng (tức là năng lực), mới thấy đƣợc đầy đủ ý nghĩa của KNNN.

Ngày nay, với tiếp cận năng lực thực hiện trong đào tạo, các nhà sƣ phạm nhấn mạnh đến việc dạy học tích hợp kiến thức, KN và thái độ cần thiết để người học có thể vận dụng vào việc thực hiện từng công việc cụ thể của một nghề. Theo đó, KNNN hƣớng tới khả năng thực hiện công việc của con ngƣời trong hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, khi nói đến KNNN, ngƣời ta thƣờng khu trú nó trong phạm trù của KN (năng lực hành động) nhiều hơn ở các lĩnh vực 12 khác nhƣ kiến thức và các phẩm chất tâm lý nhƣ đạo đức, thái độ, hành vi,. Còn nói về năng lực thì thƣờng là rộng hơn và hƣớng vào cả ba thành tố.

Nhƣ vậy, KNNN được hiểu là khả năng của con người thực hiện công việc nghề nghiệp một cách có hiệu quả trong một thời gian thích hợp, với các điều kiện nhất định, dựa vào sự tích hợp nhuần nhuyễn các kiến thức, KN, thái độ. KNNN đƣợc phân chia thành nhiều loại khác nhau, dựa vào một số tiêu chuẩn xác định. - Nếu căn cứ vào mức độ của hành động, có các loại KN đơn giản nhƣ đọc, viết,. và các KN phức tạp nhƣ học tập, vận hành máy móc,.

- Nếu căn cứ vào mức độ biểu hiện của KN có: + KN chung: Là loại KN biểu hiện ở mọi hoạt động của con ngƣời nhƣ KN sử dụng các công cụ lao động, KN học tập, KN giao tiếp, KN nghiên cứu,.; + KN riêng: Là KN trong hoạt động nghề nghiệp nhất định nào đó. Ở mỗi nghề, tùy thuộc vào từng trình độ, đòi hỏi ngƣời lao động phải có các KN tƣơng ứng - Nếu căn cứ vào mức độ quan trọng của KN, ngƣời ta phân ra các loại: + KN cơ bản: Gồm những KN áp dụng để làm việc nói chung không dành riêng cho một nghề hoặc một ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; + KN chung: Gồm những KN có thể áp dụng chung cho nhiều lĩnh vực, ngành nghề có liên quan; + KN cốt lõi: Gồm những KN cần thiết, bắt buộc phải có để đƣợc công nhận là có trình độ nghề nghiệp nhất định nào đó. - Nếu căn cứ vào tính chất của KN, ngƣời ta còn phân loại ra các KN cứng và KN mềm. + KN cứng (hard skill) [119]: Là KN chuyên môn nghề - KN kỹ thuật cụ thể nhƣ khả năng học vấn trình độ chuyên môn cho mỗi công việc, ngành nghề nhất định và kinh nghiệm; + KN mềm (soft skill) [119]: Thƣờng hiểu là các KN không mang tính kỹ thuật (hay còn gọi là KN thực hành xã hội) là thuật ngữ liên quan đến trí tuệ xúc cảm dùng để chỉ các KN quan trọng trong cuộc sống con ngƣời.

Rèn luyện kỹ năng Theo [59] rèn luyện là “luyện tập nhiều lần trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo”. Rèn luyện KN là sự luyện tập nó nhiều lần trong môi trƣờng ổn định tạo nên sự thay đổi từng bƣớc để hình thành và phát triển từ thấp đến cao, từ chƣa hoàn thiện đến hoàn thiện. Khi bàn về rèn luyện KN trong thực tập sƣ phạm của SV, tác giả Abdoublina O.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án về dạy học toán cho sinh viên khối ngành kinh tế theo tiếp cận CDIO" của tác giả Trần Văn Hoan, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Đức Quang và PGS. Đỗ Tiến Đạt, được thực hiện tại Đại học Lạc Hồng vào năm 2019. Bài luận án này tập trung vào việc áp dụng phương pháp CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate) trong giảng dạy toán cho sinh viên ngành kinh tế, nhằm nâng cao khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề thực tiễn cho sinh viên. Qua đó, luận án không chỉ cung cấp những kiến thức lý thuyết mà còn giúp sinh viên phát triển kỹ năng thực hành, từ đó cải thiện chất lượng đào tạo trong lĩnh vực kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về quản lý đào tạo theo đặt hàng tại Đại học Công nghiệp Dệt may Hà Nội", nơi nghiên cứu về quản lý đào tạo trong bối cảnh hiện đại, hay "Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo đại học từ xa ở Việt Nam theo tiêu chuẩn AAOU", giúp bạn hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn chất lượng trong giáo dục. Cuối cùng, "Luận án tiến sĩ về quản lý đội ngũ giảng viên các trường đại học địa phương trong bối cảnh hiện nay" cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý giảng viên trong giáo dục đại học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp và chiến lược trong giáo dục đại học hiện nay.