Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Dạy học phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao theo quan điểm kiến tạo Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quan điểm về kiến tạo trong dạy học 1. Kiến tạo là gì? Theo Đại từ điển Tiếng Việt “kiến tạo” là xây dựng [20, tr. Như vậy, động từ “kiến tạo” chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng, một hiện tượng, một quan hệ nhằm mục đích biến chúng và sử dụng chúng như những công cụ ký hiệu để tạo nên các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ mới theo nhu cầu của bản thân.
Một số quan điểm về kiến tạo trong dạy học Khoa học luận coi bản chất cuả quá trình học tập của học sinh, đó là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của người học. Quá trình nhận thức của học sinh cũng tuân thủ theo phương pháp luận nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ trừu tượng trở về thực tiễn”.21] Chúng ta cần lưu ý rằng, quá trình nhận thức của học sinh có những nét đặc trưng, khác biệt với các nhà khoa học. Quá trình đó được tổ chức và hình thành bằng các phương pháp sư phạm và cái đích của quá trình này là học sinh tìm ra cái mới đối với họ được lấy từ kho tàng tri thức chung của loài người. Quan điểm về kiến tạo của Brooks (1993): “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới một cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái gì mà họ đã nó trước đó.
Học sinh thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác giữa những chủ thể và ý tưởng…” Theo Mebrien và Briandt (1997): “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác”. 5 z Theo Briner (1999) cho rằng: “Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới, để tạo thành thể thống nhất giữa những kiến thức thu nhận được và những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” [3, tr. Theo GS, TSKH Nguyễn Bá Kim khi bàn về thuyết kiến tạo có viết: “Học tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân bằng”. Theo Phạm Gia Đức: “Kiến tạo là lý thuyết dạy học mà nền tảng của nó là dựa trên kiến thức đã có của người học để xây dựng nên kiến thức mới sao cho kiến thức mới phải phù hợp trong tổng thể cái đã có”.
Như vậy, mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy học, nhưng tất cả các cách nói trên đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thu nhận những tri thức cho bản thân. Theo những quan điểm này, người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những tri thức do người khác truyền cho một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào trong một môi trường tích cực, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách “đồng hoá” hay “điều ứng” những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với những tình huống mới, từ đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân [1, tr. Xuất phát từ bản chất của kiến tạo trong dạy học, tác giả Paul Ernest đã phân chia hoạt động kiến tạo thành hai loại: * Kiến tạo cơ bản (Radical constructivism) - Kiến tạo cơ bản là lý thuyết về nhận thức nhằm miêu tả cách thức các cá nhân xây dựng tri thức chobản thân trong quá trình học tập. Mặt khác, mục đích của quá trình nhận thức của học sinh là quá trình tái tạo lại tri thức của nhân loại và được sàng lọc cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Tri thức 6 z không được thu nhận một cách bị động mà do chính chủ thể tích cực xây dựng nên, điều này cũng phù hợp với quan điểm của tác giả Glaserfefd: “Tri thức là kết của quả hoạt động kiến tạo của chính chủ thể”. Do vậy, phải quan niệm trong môi trường học đường đối với người học, nhận thức là quá trình thích nghi chủ động với môi trường nhằm mục đích tạo dựng văn hoá môn học của chính mỗi cá nhân chứ không phải là khám phá một thế giới độc lập trong tồn tại ngoài ý thức của chủ thể. Như vậy, có thể nói rằng kiến tạo cơ bản đề cao vai trò chủ động tích cực của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng nên kiến thức cho bản thân. “Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển hoá bên trong của các nhân trong quá trình nhận thức và coi trọng kinh nghiệm của mỗi cá nhân, nhấn mạnh vai trò chủ động của người học”[17, tr.
Từ những phân tích trên chúng ta thấy được rằng: Kiến tạo cơ bản vẫn có mặt mạnh và yếu của nó. Mặt mạnh: Nó đã chỉ ra cách thức người học xây dựng nên tri thức cho bản thân, trong quá trình học tập, do đó chính người học trở thành người sở hữu những tri thức đó. Tuy nhiên, điểm yếu của kiến tạo cơ bản là: Nếu coi trọng quá mức kiến tạo cơ bản, người học sẽ bị đặt trong tình trạng cô lập và kiến thức xây dựng được sẽ thiếu tính xã hội. * Kiến tạo xã hội (Social constructivism) - Kiến tạo xã hội là quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố văn hoá, các điều kiện xã hội và tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành tri thức của xã hội loài người [17, tr.
Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội. Theo Ernst thì: “Kiến tạo xã hội xem xét chủ thể nhận thức và lĩnh vực xã hội như là một sự kết nối mang tính trường tồn” [3, tr. Quan điểm về kiến tạo xã hội được xây dựng trên các tư tưởng cơ bản: + Tri thức được cá nhân tạo nên phải “xứng đáng” với các yêu cầu của tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra. 7 z + Người học đạt được các tri thức mới bởi quá trình nhận thức: Dự báo Kiểm nghiệm Thất bại Thích nghi Tri thức mới [1, tr.
Kiến tạo xã hội xem nhân cách của chủ thể được hình thành thông qua tương tác giữa họ với người khác và điều này cũng quan trọng như những quá trình nhận thức mang tính cá nhân của họ [17, tr. Như vậy, có thể thấy được điểm mạnh của kiến tạo xã hội là nhấn mạnh đến khả năng tiềm ẩn là con người trong sự đối toại, tương tác, tranh luận của họ với nhau trong việc kiến tạo và công nhận kiến thức. Điểm hạn chế của kiến tạo xã hội là không toát lên vai trò của chủ thể trong quá trình nhận thức. Một số luận điểm của lý thuyết kiến tạo Von Glaserfeld, một trong những người đầu tiên trong việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học đã nhấn mạnh một số luận điểm của lý thuyết kiến tạo như sau: 1.
Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu trong [1, tr.208 ] viết: “Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức. Ví dụ đơn giản nhất về điều này là việc “tập đi” của một đứa trẻ. Việc “đi” của đứa trẻ lúc đầu có thể rất khó khăn và đứa trẻ luôn vấp ngã. Nhưng dần dần, qua thực tiễn, đứa trẻ sẽ đi được và đồng thời sẽ rút ra những kinh nghiệm để đi mà không bị ngã.
Như vậy, trẻ em “tập đi” bằng cách “đi” chứ không phải bằng cách được dạy những quy tắc để đi và thực hành chúng’’. Trong dạy học, điều này cũng được thể hiện rất rõ ràng. Chẳng hạn ý tưởng về quan hệ “lớn hơn” và “nhỏ hơn” được trẻ em kiến tạo nên thông qua quá trình phản ánh các hoạt động được thực hiện trên tập hợp các đồ vật, ví dụ khi học sinh so sánh tập hợp gồm 4 viên bi với tập hợp gồm 7 viên bi… Mặc dù giáo viên có thể trình diễn nhiều ví dụ khac snhau, nhưng khái niệm lớn hơn hay nhỏ hơn chỉ có thể tạo nên trong chính tư duy của các em”. 8 z Giả thuyết này của lý thuyết kiến tạo cũng phù hợp với quan điểm của J.Piaget: “Những ý tưởng cần được trẻ em tạo nên chứ không phải được tìm thấy như một viên sỏi hoặc nhận được từ tay người khác như một món quà”.
Nhận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể. Theo Nguyễn Hữu Châu: “ Nhận thức không phải là quá trình người học thụ động thu nhận những kiến thức chân lý do người khác áp đặt lên. Nếu người học được đặt trong một môi trường xã hội tích cực, thì ở đó người học có thể được khuyến khích vận dụng những tri thức và kỹ năng đã có để thích nghi với môi trường mới và từ đó xây dựng nên tri thức mới. Đây chính là quá trình nhận thức của học sinh theo quan điểm kiến tạo”[1, tr.
Tuy nhiên, quá trình nhận thức về tự nhiên và xã hội của học sinh không giống các nhà khoa học bởi những gì học sinh nhận thức là mới đối với họ, song không mới đối với nhân loại; nhận thức của các nhà khoa học là hoàn toàn mới đối với nhân loại. Quá trình nhận thức của học sinh chỉ nhằm mục đích chủ động, tái tạo lại tri thức của nhân loại trong chính bản thân mình, hơn nữa quá trình nhận thức của học sinh được diễn ra trong môi trường đặc biệt, đó là: “môi trường dạy học”.