Dạy Học Tổ Hợp Đại Số và Giải Tích 11 Nâng Cao Theo Quan Điểm Kiến Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu dạy học phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao theo quan điểm kiến tạo, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2008

119
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Quan điểm về kiến tạo trong dạy học

1.2. Một số luận điểm của lý thuyết kiến tạo

1.3. Mô hình dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.4. Cách tổ chức dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.5. Môi trường học tập mang tính kiến tạo

1.6. Một số năng lực kiến tạo kiến thức trong dạy học

1.7. Ưu, nhược điểm của dạy học theo quan điểm kiến tạo

1.8. Phối hợp các phương pháp dạy học phù hợp với quan điểm kiến tạo

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: DẠY HỌC PHẦN TỔ HỢP CỦA SÁCH GIÁO KHOA ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH 11 NÂNG CAO THEO QUAN ĐIỂM KIẾN TẠO

2.1. Đặc điểm chương trình và sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao theo quan điểm kiến tạo

2.2. Đặc điểm phần tổ hợp trong chương trình và sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao

2.3. Yêu cầu về đổi mới phương pháp giảng dạy phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao

2.4. Đề xuất quy trình tổ chức dạy học phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao theo quan điểm kiến tạo

2.5. Triển khai các tình huống dạy học điển hình trong phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm

3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm

3.3. Kế hoạch thực nghiệm

3.4. Kết quả thực nghiệm

3.5. Kết luận chung về thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dạy Học Tổ Hợp Giải Tích 11 Nâng Cao Mới Nhất

Chương trình toán 11 nâng cao hiện nay đòi hỏi sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy, đặc biệt là đối với phần tổ hợp đại sốgiải tích. Lý thuyết kiến tạo, với trọng tâm là vai trò chủ động của học sinh trong việc xây dựng kiến thức, đang trở thành một hướng đi tiềm năng. Bài viết này sẽ đi sâu vào việc áp dụng quan điểm kiến tạo vào việc dạy học phần tổ hợp giải tích 11 nâng cao, nhằm phát huy tính tích cực và nâng cao hiệu quả học tập của học sinh. Nghị quyết TW2 (khóa VIII) của Đảng đã khẳng định: “Cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình học tập ở nhà trường phổ thông”.

1.1. Bản Chất Của Dạy Học Kiến Tạo Trong Toán Học

Dạy học kiến tạo không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà còn là tạo điều kiện để học sinh tự khám phá, xây dựng và kiến tạo tri thức toán học. Học sinh không phải là những người tiếp nhận thụ động mà là những chủ thể tích cực tham gia vào quá trình học tập. Giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ và tạo môi trường học tập phù hợp để học sinh phát triển tối đa năng lực của mình. Theo GS, TSKH Nguyễn Bá Kim khi bàn về thuyết kiến tạo có viết: “Học tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân bằng”.

1.2. Ưu Điểm Của Phương Pháp Dạy Học Kiến Tạo

Phương pháp dạy học kiến tạo mang lại nhiều ưu điểm vượt trội so với phương pháp truyền thống. Nó giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề, phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Ngoài ra, phương pháp này còn khuyến khích sự hợp tác, chia sẻ và học hỏi lẫn nhau giữa các học sinh, tạo nên một môi trường học tập tích cực và hiệu quả. Dạy học tích cực toán 11 là một trong những mục tiêu quan trọng của phương pháp này.

II. Thách Thức Dạy Tổ Hợp Giải Tích 11 Nâng Cao Hiện Nay

Mặc dù có nhiều ưu điểm, việc áp dụng phương pháp dạy học kiến tạo vào phần tổ hợp đại số và giải tích 11 nâng cao vẫn còn gặp nhiều thách thức. Nội dung chương trình sách giáo khoa toán 11 nâng cao khá trừu tượng và khó hiểu đối với nhiều học sinh. Bên cạnh đó, việc thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với quan điểm kiến tạo đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và sáng tạo. Cuối cùng, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh theo phương pháp kiến tạo cũng cần có những thay đổi phù hợp. Việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh khi học nội dung này nhằm giúp họ nắm vững tri thức và phát triển tư duy là yêu cầu quan trọng.

2.1. Khó Khăn Về Nội Dung Chương Trình Toán 11 Nâng Cao

Phần tổ hợp giải tích trong chương trình toán 11 nâng cao chứa đựng nhiều khái niệm mới và phức tạp, đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy trừu tượng cao. Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc nắm bắt bản chất của các khái niệm này và vận dụng chúng vào giải quyết bài tập. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giảng dạy phù hợp để giúp học sinh vượt qua những khó khăn này. Mặt khác, nội dung này tuy mới, khó nhưng nếu biết khai thác tốt khi dạy giáo viên có thể tạo cho học sinh nhiều cơ hội để đồng hoá và điều ứng các kiến thức và kỹ năng đã có của họ giúp cho kiến thức mới được xác lập trở nên vững chắc, qua đó phát triển năng lực tư duy cho học sinh.

2.2. Yêu Cầu Cao Về Chuẩn Bị Của Giáo Viên Toán 11

Để áp dụng thành công phương pháp dạy học kiến tạo, giáo viên cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Giáo viên cần phải thiết kế các hoạt động học tập phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh, đồng thời tạo ra một môi trường học tập khuyến khích sự sáng tạo và hợp tác. Điều này đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức vào việc chuẩn bị bài giảng. Luận văn cung cấp một tài liêu tham khảo thiết thực góp phần giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay.

III. Phương Pháp Dạy Tổ Hợp Giải Tích 11 Nâng Cao Kiến Tạo

Để vượt qua những thách thức trên, cần có những phương pháp dạy học phù hợp với quan điểm kiến tạo. Một trong những phương pháp hiệu quả là sử dụng các tình huống thực tế để giới thiệu các khái niệm mới. Ngoài ra, việc khuyến khích học sinh tự khám phá và giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động nhóm cũng rất quan trọng. Cuối cùng, việc sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập như phần mềm mô phỏng và trò chơi giáo dục có thể giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề. Dạy học theo hướng phát triển năng lực là một trong những mục tiêu quan trọng của phương pháp này.

3.1. Sử Dụng Tình Huống Thực Tế Trong Dạy Toán 11

Việc sử dụng các tình huống thực tế để giới thiệu các khái niệm mới giúp học sinh dễ dàng hình dung và hiểu được bản chất của vấn đề. Ví dụ, khi dạy về hoán vị, chỉnh hợp và tổ hợp, giáo viên có thể sử dụng các bài toán liên quan đến việc sắp xếp chỗ ngồi, chọn đội tuyển hoặc chia nhóm để học sinh dễ dàng tiếp cận. Ví dụ dạy học tổ hợp đại số và giải tích 11 cần được lựa chọn kỹ lưỡng để phù hợp với trình độ của học sinh.

3.2. Khuyến Khích Hoạt Động Nhóm Trong Dạy Toán 11

Hoạt động nhóm giúp học sinh phát triển kỹ năng hợp tác, chia sẻ và học hỏi lẫn nhau. Trong quá trình làm việc nhóm, học sinh có thể trao đổi ý kiến, tranh luận và cùng nhau giải quyết vấn đề. Điều này giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề và phát triển tư duy phản biện. Tổ chức hoạt động dạy học toán 11 cần tạo điều kiện để học sinh phát huy tối đa khả năng của mình.

3.3. Ứng Dụng Công Nghệ Trong Dạy Học Toán 11 Nâng Cao

Các công cụ hỗ trợ học tập như phần mềm mô phỏng và trò chơi giáo dục có thể giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề. Ví dụ, phần mềm Geogebra có thể được sử dụng để mô phỏng các hình học không gian, giúp học sinh dễ dàng hình dung và nắm bắt các khái niệm liên quan. Dạy học trực tuyến toán 11 cũng là một xu hướng tiềm năng trong việc ứng dụng công nghệ vào dạy học.

IV. Ứng Dụng Dạy Học Tổ Hợp Giải Tích 11 Nâng Cao Kiến Tạo

Việc áp dụng phương pháp dạy học kiến tạo vào phần tổ hợp đại số và giải tích 11 nâng cao có thể mang lại những kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và kỹ năng hợp tác. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp học sinh yêu thích môn toán hơn và có động lực học tập cao hơn. Ứng dụng tổ hợp đại số và giải tích vào thực tế là một trong những mục tiêu quan trọng của phương pháp này.

4.1. Nâng Cao Kết Quả Học Tập Toán 11 Nâng Cao

Phương pháp dạy học kiến tạo giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất của vấn đề, từ đó nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết bài tập. Điều này dẫn đến sự cải thiện đáng kể về kết quả học tập của học sinh. Bài tập toán 11 nâng cao cần được thiết kế phù hợp với phương pháp dạy học kiến tạo để phát huy tối đa hiệu quả.

4.2. Phát Triển Tư Duy Phản Biện Cho Học Sinh Toán 11

Phương pháp dạy học kiến tạo khuyến khích học sinh tự khám phá và giải quyết vấn đề, từ đó phát triển tư duy phản biện. Học sinh không chỉ học thuộc lòng kiến thức mà còn biết cách phân tích, đánh giá và đưa ra những nhận xét của riêng mình. Kiến tạo tri thức toán học là một trong những mục tiêu quan trọng của phương pháp này.

V. Kinh Nghiệm Dạy Tổ Hợp Giải Tích 11 Nâng Cao Kiến Tạo

Để áp dụng thành công phương pháp dạy học kiến tạo, giáo viên cần phải có kinh nghiệm và sự sáng tạo. Việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên là rất quan trọng để cùng nhau hoàn thiện phương pháp này. Ngoài ra, việc tham khảo các tài liệu nghiên cứu và các bài viết về dạy học kiến tạo cũng rất hữu ích. Kinh nghiệm dạy học tổ hợp đại số và giải tích 11 cần được chia sẻ rộng rãi để nâng cao chất lượng dạy học.

5.1. Chia Sẻ Kinh Nghiệm Giữa Các Giáo Viên Toán 11

Việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên giúp nhau học hỏi và hoàn thiện phương pháp dạy học. Các giáo viên có thể chia sẻ những bài học thành công, những khó khăn gặp phải và những giải pháp đã áp dụng. Tài liệu dạy học tổ hợp đại số và giải tích 11 cần được cập nhật thường xuyên để đáp ứng nhu cầu của giáo viên.

5.2. Tham Khảo Tài Liệu Về Dạy Học Kiến Tạo Toán 11

Việc tham khảo các tài liệu nghiên cứu và các bài viết về dạy học kiến tạo giúp giáo viên hiểu sâu sắc hơn về lý thuyết và phương pháp. Các tài liệu này cung cấp những gợi ý hữu ích về cách thiết kế các hoạt động học tập, cách đánh giá kết quả học tập và cách tạo ra một môi trường học tập tích cực. Giáo án dạy học tổ hợp đại số và giải tích 11 cần được xây dựng dựa trên lý thuyết kiến tạo.

VI. Kết Luận Tương Lai Dạy Tổ Hợp Giải Tích 11 Nâng Cao

Phương pháp dạy học kiến tạo là một hướng đi tiềm năng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy phần tổ hợp đại số và giải tích 11 nâng cao. Mặc dù còn gặp nhiều thách thức, nhưng với sự nỗ lực của giáo viên và sự hỗ trợ của các nhà quản lý giáo dục, phương pháp này có thể mang lại những kết quả tích cực. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu về dạy học kiến tạo để hoàn thiện phương pháp này và áp dụng rộng rãi vào các môn học khác. Lý thuyết toán 11 nâng cao cần được giảng dạy một cách sáng tạo và hiệu quả.

6.1. Đánh Giá Hiệu Quả Dạy Học Kiến Tạo Toán 11

Việc đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy học kiến tạo cần dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm kết quả học tập, khả năng tư duy phản biện, kỹ năng hợp tác và thái độ học tập của học sinh. Đánh giá trong dạy học toán 11 cần được thực hiện một cách khách quan và công bằng.

6.2. Hướng Phát Triển Dạy Học Kiến Tạo Toán 11

Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu về dạy học kiến tạo để hoàn thiện phương pháp này và áp dụng rộng rãi vào các môn học khác. Ngoài ra, cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị để hỗ trợ việc áp dụng phương pháp dạy học kiến tạo. Dạy học cá nhân hóa toán 11dạy học phân hóa toán 11 là những hướng đi tiềm năng trong tương lai.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ dạy học phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao theo quan điểm kiến tạo

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về cơ sở lý luận của đề tài Chương 2: Dạy học phần tổ hợp của sách giáo khoa đại số và giải tích 11 nâng cao theo quan điểm kiến tạo Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quan điểm về kiến tạo trong dạy học 1. Kiến tạo là gì? Theo Đại từ điển Tiếng Việt “kiến tạo” là xây dựng [20, tr. Như vậy, động từ “kiến tạo” chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng, một hiện tượng, một quan hệ nhằm mục đích biến chúng và sử dụng chúng như những công cụ ký hiệu để tạo nên các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ mới theo nhu cầu của bản thân.

Một số quan điểm về kiến tạo trong dạy học Khoa học luận coi bản chất cuả quá trình học tập của học sinh, đó là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của người học. Quá trình nhận thức của học sinh cũng tuân thủ theo phương pháp luận nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ trừu tượng trở về thực tiễn”.21] Chúng ta cần lưu ý rằng, quá trình nhận thức của học sinh có những nét đặc trưng, khác biệt với các nhà khoa học. Quá trình đó được tổ chức và hình thành bằng các phương pháp sư phạm và cái đích của quá trình này là học sinh tìm ra cái mới đối với họ được lấy từ kho tàng tri thức chung của loài người. Quan điểm về kiến tạo của Brooks (1993): “Quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng HS cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới một cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái gì mà họ đã nó trước đó.

Học sinh thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác giữa những chủ thể và ý tưởng…” Theo Mebrien và Briandt (1997): “Kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc “học” với niềm tin rằng: Tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân người học sẽ trở nên vững chắc hơn rất nhiều so với việc nó được nhận từ người khác”. 5 z Theo Briner (1999) cho rằng: “Người học tạo nên kiến thức của bản thân bằng cách điều khiển những ý tưởng và tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có, áp dụng chúng vào những tình huống mới, để tạo thành thể thống nhất giữa những kiến thức thu nhận được và những kiến thức đang tồn tại trong trí óc” [3, tr. Theo GS, TSKH Nguyễn Bá Kim khi bàn về thuyết kiến tạo có viết: “Học tập là quá trình người học xây dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những mâu thuẫn, những khó khăn, những sự mất cân bằng”. Theo Phạm Gia Đức: “Kiến tạo là lý thuyết dạy học mà nền tảng của nó là dựa trên kiến thức đã có của người học để xây dựng nên kiến thức mới sao cho kiến thức mới phải phù hợp trong tổng thể cái đã có”.

Như vậy, mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy học, nhưng tất cả các cách nói trên đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của người học trong quá trình học tập và cách thức người học thu nhận những tri thức cho bản thân. Theo những quan điểm này, người học không học bằng cách thu nhận một cách thụ động những tri thức do người khác truyền cho một cách áp đặt, mà bằng cách đặt mình vào trong một môi trường tích cực, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề bằng cách “đồng hoá” hay “điều ứng” những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho thích ứng với những tình huống mới, từ đó xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân [1, tr. Xuất phát từ bản chất của kiến tạo trong dạy học, tác giả Paul Ernest đã phân chia hoạt động kiến tạo thành hai loại: * Kiến tạo cơ bản (Radical constructivism) - Kiến tạo cơ bản là lý thuyết về nhận thức nhằm miêu tả cách thức các cá nhân xây dựng tri thức chobản thân trong quá trình học tập. Mặt khác, mục đích của quá trình nhận thức của học sinh là quá trình tái tạo lại tri thức của nhân loại và được sàng lọc cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Tri thức 6 z không được thu nhận một cách bị động mà do chính chủ thể tích cực xây dựng nên, điều này cũng phù hợp với quan điểm của tác giả Glaserfefd: “Tri thức là kết của quả hoạt động kiến tạo của chính chủ thể”. Do vậy, phải quan niệm trong môi trường học đường đối với người học, nhận thức là quá trình thích nghi chủ động với môi trường nhằm mục đích tạo dựng văn hoá môn học của chính mỗi cá nhân chứ không phải là khám phá một thế giới độc lập trong tồn tại ngoài ý thức của chủ thể. Như vậy, có thể nói rằng kiến tạo cơ bản đề cao vai trò chủ động tích cực của mỗi cá nhân trong quá trình nhận thức và cách thức cá nhân xây dựng nên kiến thức cho bản thân. “Kiến tạo cơ bản quan tâm đến quá trình chuyển hoá bên trong của các nhân trong quá trình nhận thức và coi trọng kinh nghiệm của mỗi cá nhân, nhấn mạnh vai trò chủ động của người học”[17, tr.

Từ những phân tích trên chúng ta thấy được rằng: Kiến tạo cơ bản vẫn có mặt mạnh và yếu của nó. Mặt mạnh: Nó đã chỉ ra cách thức người học xây dựng nên tri thức cho bản thân, trong quá trình học tập, do đó chính người học trở thành người sở hữu những tri thức đó. Tuy nhiên, điểm yếu của kiến tạo cơ bản là: Nếu coi trọng quá mức kiến tạo cơ bản, người học sẽ bị đặt trong tình trạng cô lập và kiến thức xây dựng được sẽ thiếu tính xã hội. * Kiến tạo xã hội (Social constructivism) - Kiến tạo xã hội là quan điểm nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố văn hoá, các điều kiện xã hội và tác động của các yếu tố đó đến sự hình thành tri thức của xã hội loài người [17, tr.

Kiến tạo xã hội xem xét cá nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực xã hội. Theo Ernst thì: “Kiến tạo xã hội xem xét chủ thể nhận thức và lĩnh vực xã hội như là một sự kết nối mang tính trường tồn” [3, tr. Quan điểm về kiến tạo xã hội được xây dựng trên các tư tưởng cơ bản: + Tri thức được cá nhân tạo nên phải “xứng đáng” với các yêu cầu của tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra. 7 z + Người học đạt được các tri thức mới bởi quá trình nhận thức: Dự báo  Kiểm nghiệm  Thất bại  Thích nghi  Tri thức mới [1, tr.

Kiến tạo xã hội xem nhân cách của chủ thể được hình thành thông qua tương tác giữa họ với người khác và điều này cũng quan trọng như những quá trình nhận thức mang tính cá nhân của họ [17, tr. Như vậy, có thể thấy được điểm mạnh của kiến tạo xã hội là nhấn mạnh đến khả năng tiềm ẩn là con người trong sự đối toại, tương tác, tranh luận của họ với nhau trong việc kiến tạo và công nhận kiến thức. Điểm hạn chế của kiến tạo xã hội là không toát lên vai trò của chủ thể trong quá trình nhận thức. Một số luận điểm của lý thuyết kiến tạo Von Glaserfeld, một trong những người đầu tiên trong việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học đã nhấn mạnh một số luận điểm của lý thuyết kiến tạo như sau: 1.

Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu trong [1, tr.208 ] viết: “Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức. Ví dụ đơn giản nhất về điều này là việc “tập đi” của một đứa trẻ. Việc “đi” của đứa trẻ lúc đầu có thể rất khó khăn và đứa trẻ luôn vấp ngã. Nhưng dần dần, qua thực tiễn, đứa trẻ sẽ đi được và đồng thời sẽ rút ra những kinh nghiệm để đi mà không bị ngã.

Như vậy, trẻ em “tập đi” bằng cách “đi” chứ không phải bằng cách được dạy những quy tắc để đi và thực hành chúng’’. Trong dạy học, điều này cũng được thể hiện rất rõ ràng. Chẳng hạn ý tưởng về quan hệ “lớn hơn” và “nhỏ hơn” được trẻ em kiến tạo nên thông qua quá trình phản ánh các hoạt động được thực hiện trên tập hợp các đồ vật, ví dụ khi học sinh so sánh tập hợp gồm 4 viên bi với tập hợp gồm 7 viên bi… Mặc dù giáo viên có thể trình diễn nhiều ví dụ khac snhau, nhưng khái niệm lớn hơn hay nhỏ hơn chỉ có thể tạo nên trong chính tư duy của các em”. 8 z Giả thuyết này của lý thuyết kiến tạo cũng phù hợp với quan điểm của J.Piaget: “Những ý tưởng cần được trẻ em tạo nên chứ không phải được tìm thấy như một viên sỏi hoặc nhận được từ tay người khác như một món quà”.

Nhận thức là quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của mỗi người Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể. Theo Nguyễn Hữu Châu: “ Nhận thức không phải là quá trình người học thụ động thu nhận những kiến thức chân lý do người khác áp đặt lên. Nếu người học được đặt trong một môi trường xã hội tích cực, thì ở đó người học có thể được khuyến khích vận dụng những tri thức và kỹ năng đã có để thích nghi với môi trường mới và từ đó xây dựng nên tri thức mới. Đây chính là quá trình nhận thức của học sinh theo quan điểm kiến tạo”[1, tr.

Tuy nhiên, quá trình nhận thức về tự nhiên và xã hội của học sinh không giống các nhà khoa học bởi những gì học sinh nhận thức là mới đối với họ, song không mới đối với nhân loại; nhận thức của các nhà khoa học là hoàn toàn mới đối với nhân loại. Quá trình nhận thức của học sinh chỉ nhằm mục đích chủ động, tái tạo lại tri thức của nhân loại trong chính bản thân mình, hơn nữa quá trình nhận thức của học sinh được diễn ra trong môi trường đặc biệt, đó là: “môi trường dạy học”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu Dạy Học Tổ Hợp Đại Số và Giải Tích 11 Nâng Cao Theo Quan Điểm Kiến Tạo mang đến một cái nhìn sâu sắc về phương pháp dạy học hiện đại, tập trung vào việc phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh. Tài liệu này không chỉ cung cấp các phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi học sinh có thể tự do khám phá và sáng tạo.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học sáng tạo, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông, nơi trình bày cách thức áp dụng giao tiếp trong giảng dạy ngữ pháp. Ngoài ra, tài liệu Luận văn vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học truyện ngắn vợ nhặt ở trường trung học phổ thông sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng lý thuyết kiến tạo trong giảng dạy văn học. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục học vận dụng mô hình học hợp tác với sự hỗ trợ của máy vi tính vào dạy học chương điện học vật lí 9 trung học cơ sở sẽ cung cấp thêm thông tin về mô hình học tập hợp tác, một phương pháp hữu ích trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về các phương pháp dạy học hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.