Chương 1: Sự điện li - Chương 2: Nitơ, Photpho - Chương 3: Cacbon, Silic - Chương 4: Đại cương về hóa học hữu cơ - Chương 5: Hidrocacbon no - Chương 6: Hidrocacbon không no - Chương 7: Hidrocacbon thơm, Nguồn Hidrocacbon thiên nhiên - Chương 8: Dẫn xuất Halogen, Ancol, Phenol - Chương 9: Anđehit, Xeton, Axit Cacboxylic 1. Nội dung các chương Như vậy, phần đầu tiên trong chương trình Hóa học lớp 11 học sinh sẽ được làm quen với những lý thuyết chủ đạo dùng để nghiên cứu chất vô cơ và chất hữu cơ như: chất điện li, sự điện li, phản ứng trao đổi ion, tìm hiểu về PH,. - Tiếp đến học sinh sẽ được đi sâu vào tìm hiểu 2 phần rất dài và khó là hóa vô cơ và hóa hữu cơ. Trong đó với phần vô cơ các em sẽ được học về các nguyên tố phi kim quan trọng: nhóm nitơ – photpho, cacbon – silic,…Cần chú ý đến phần này hơn vì nó thường xuất hiện trong các câu hỏi thi, tập trung chủ yếu ở Nito-photpho, Oxi – lưu huỳnh tích hợp liên quan đến thí nghiệm và kiến thức thức thực tế.
- Phần hóa hữu cơ sẽ tiếp tục nghiên cứu về hidrocacbon không no, hidrocacbon thiên nhiên, hidrocacbon no,…cùng một số hợp chất hữu cơ ứng dụng công nghệ khoa học cao như andehit, ancol, xeton, acid cacbonxylic,…. - Như nhiều bạn đã biết nếu nói các kiến thức môn Hóa học ở lớp 8 là phần kiến thức cốt lõi quan trọng nhất thì lớp 11 chính là trọng tâm môn Hóa của toàn cấp. Nó vừa “thâu tóm” toàn bộ kiến thức của 10 năm học trước đó và là nền tảng cho chương trình lớp 12. Vì thế nếu ai nắm chắc kiến thức Hóa lớp trước thì sẽ dễ dàng tiếp thu chương trình kiến thức lớp 11 hơn rất nhiều.
Do môn hóa học là một môn khoa học vừa mang tính lí thuyết vừa gắn với thực nghiệm ,nó liên quan rất nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội , sản xuất và môi trường sống.Cho nên muốn dạy môn hóa học có hiệu quả thì ngoài việc nắm vững kiến thức , ta cần có một phương pháp dạy phù hợp.Ngoài áp dụng các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng thường xuyên theo hướng đổi mới như :dạy học nêu vấn đề, Học sinh thảo luận nhóm theo hướng nghiên cứu bài học Nhằm nâng cao khả năng tiếp thu , tính chủ động sáng tạo của học sinh với mục đích tăng hứng thú học tập môn hóa học , biết vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống thực tiễn , giáo dục ý thức , trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng học sinh , Trong chương trình hóa học phổ thông hầu như các bài học đều có nội dung đa dạng và liên hệ thực tế phong phú. Trong chương trình giáo dục phổ thông, Hoá học là môn học thuộc nhóm môn khoa học tự nhiên ở cấp trung học phổ skkn thông, được học sinh lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân. Môn Hoá học giúp học sinh có được những tri thức cốt lõi về hoá học và ứng dụng những tri thức này vào cuộc sống, đồng thời có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực giáo dục khác. Tùy vào đối tượng học sinh, thực trạng của từng địa phương và các vấn đề cụ thể giáo viên phải biết lựa chọn nội dung thích hợp và liên hệ phù hợp.
Với các bài dạy về nitơ, photpho và các hợp chất của chúng thuộc chương 2 : nitơ – phootpho – hóa học 11 thì các vấn đề liên quan đến đời sống thực tế và môi trường càng đa dạng. Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở Việt Nam. Tuy nhiên phân bón cũng chính là những loại hóa chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự màu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người, gia súc.
Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống. Sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và nó để lại nhiều hậu quả xấu tác động trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của con người, sự sinh trưởng, phát triển của động thực vật.3 Những ưu thế của môn hóa học 11 THPT trong việc tổ chức dạy học theo hướng hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cho học sinh.1 Nội dung môn Hóa học gắn liền với các vấn đề thực tiễn. Nội dung dạy học phong phú đa dạng. Cấu trúc SGK được cấu tạo theo các đơn vị kiến thức lớn, sắp xếp lôgic, rõ ràng, hệ thống kiến thức chi tiết, nội dung dạy học, các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng đa dạng, có nhiều nội dung mở tạo điều kiện cho việc áp dụng các phương pháp dạy học theo hướng hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
Nội dung SGK cũng được lựa chọn những kiến thức có tính tiêu biểu, nổi bật nhất. Nội dung này giúp HS có thể tham gia tìm hiểu, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống liên quan đến nội dung Hóa học. Bên cạnh đó, HS được tạo điều kiện làm việc với những hình ảnh, số liệu thống kê,… sẽ giúp cho các em rèn luyện và phát triển kĩ năng quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá sự vật, hiện tượng Hóa học. Nội dung môn Hóa học là môn học có đặc trưng thuộc khoa học tự nhiên.
Với đặc trưng này, môn Hóa học giúp học sinh nắm được những đặc điểm tổng quát của của khoa học Hóa học, các ngành nghề có liên quan, khả năng ứng dụng kiến thức trong đời sống, đồng thời củng cố và mở rộng nền tảng tri thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi đã được hình thành ở giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo cơ sở vững chắc giúp học sinh tiếp tục theo học các ngành nghề có liên quan. Các đặc thù của môn Hóa học như nhận thức thế giới theo quan điểm không gian, giải thích các hiện tượng và quá trình Hóa học, sử dụng các công cụ Hóa học học và tổ chức học tập thực địa, thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin Hóa học. giúp các em có những trải nghiệm, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn và định hướng nghề nghiệp. Hệ thống kênh hình phong phú đa dạng tạo thuận lợi cho việc tổ chức dạy học theo hướng hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
Ngoài kênh chữ, hệ thống kênh hình trong chương trình SGK Hóa học 11 THPT rất phong phú, đa dạng bao gồm các loại sơ đồ, bảng số liệu, bảng kiến thức, tranh ảnh. cũng tạo điều kiện cho việc tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp. Đây là nguồn dữ liệu phong phú để GV tổ chức, thiết kế ra các ý tưởng dạy học giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của các vấn đề của Hóa học với thực tiễn cuộc sống, có khả năng vận dụng các kiến thức đã được học để giải quyết vấn đề, và có hứng thú, say mê hơn với môn Hóa học. Đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 11 THPT.1 Đặc điểm tâm lí lứa tuổi.
Đặc điểm lớn nhất trong sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi học sinh lớp 11 trung học phổ thông (THPT) là các quan hệ có tính mở và sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội. Đặc điểm này đuợc thể hiện cụ thể như sau: - Ở lứa tuổi học sinh lớp 11 THPT, các mối quan hệ ít tính mâu thuẫn hơn so với độ tuổi trước đó. Quan hệ với cha me, thầy cô, bạn bè đã trở nên thuận lợi hơn do sự trưởng thành nhất định trong nhận thức của HS và sự thay đổi trong cách nhìn nhận của người lớn. Tuy vậy, tính chất ít xác định về quan hệ xã hội vẫn còn.
Một mặt HS đã có những sự độc lập nhất định trong tư duy, trong hành vi ứng xử, mặt khác HS lại chưa có đuợc sự độc lập về kinh tế do vẫn phụ thuộc vào gia đình. - Quan hệ với phụ huynh. Trong gia đình, HS có thể có được quan hệ tương đối dân chủ hơn, được tôn trọng và lắng nghe. HS có thể tự quyết định một sổ vấn đề của bản thân hoặc được tham gia vào việc ra các quyết định đó như lựa chọn nghề nghiệp, học hành, tình cảm.
Việc can thiệp trực tiếp theo kiểu “ra lệnh”, “ép buộc” của cha mẹ với các em không phù hợp và cũng không thể hiệu quả nữa. Sự tôn trọng và trò chuyện của phụ huynh với học sinh có thể tạo được mối quan hệ tốt giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ là những người bạn, người “cố vấn”. Những người cha me tốt vẫn là những khuôn mẫu hành vi quan trọng đối với các em. Nếu thiếu sự định hướng và những khuôn mẫu hành vi từ phía cha mẹ, các em có thể tìm kiếm các khuôn mẫu khác ngoài môi trường gia đình để làm theo bởi các mối quan hệ xã hội và khả năng tiếp xúc với những người khác đã mở rộng hơn.
- Trong quan hệ với bạn bè, học sinh lớp 11 THPT có thể tham gia vào nhiều nhóm bạn đa dạng hơn. Nhóm bạn có các định hướng giá trị rõ rệt hơn và có điều kiện tồn tại lâu dài hơn. Tuổi của học sinh lớp 11 THPT là tuổi của những người đang lớn nhưng chưa thành người lớn, những người thu nhận thông tin nhưng không phải là người uyên bác, những người ham mê nhưng không phải say mê. Sự phát triển phong phú về tình cảm ở lứa tuổi này đặt ra trong công tác giáo dục nguyên tắc tế nhị, khéo léo.
Giáo viên cần động viên, giúp đỡ, khích lệ, khoan dung, độ lượng, vị tha, ấm áp, quan tâm, khẳng định các phẩm chất tốt đẹp ở học sinh, tư vấn cho các em một cách tế nhị, tạo ra môi trường mà người học có thể biểu lộ, thể hiện chính họ, cảm thấy được yêu thương bởi vì được là chính bản thân mình (tổ chức nhiều hoạt động để học sinh thể hiện). Đây là yếu tố thuận lợi để tổ chức dạy học theo hướng hoạt động trải nghiêm, hướng nghiệp. Đặc điểm hoạt động học tập.