CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIÊN 1.1 Một số khái niệm thuật ngữ cơ bản 1.1 Hoạt động giáo dục, hoạt động dạy hoc Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội [13]. Hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng là “những hoạt động có chu dich, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục” [19, tr. Hoạt động giáo dục theo nghĩa rộng này bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp.
Hoạt động dạy học là quá trình người dạy tô chức và hướng dẫn hoạt động học của người học lĩnh hội tri thức khoa học, kinh nghiệm của loài người dé phat triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách người học. Hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp được hiểu là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch do nhà giáo đục định hướng, kế hoạch, tô chức trong và ngoài giờ học, trong và ngoài nhà trường nhằm hình thành nhân sinh quan, phẩm chất đạo đức, đồng thời bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ và phát triển thể chất của học sinh thông qua hệ thống các biện pháp kết hợp của gia đình và xã hội để phát huy mặt tốt, khắc phục những hạn chế trong suy nghĩ và hành động của học sinh [19, tr 43]. Như vậy, hoạt động giáo dục tác động trên các mặt cả về nhận thức, tình cảm, hành vi nhằm giúp cho người học ý thức có nhu cầu và thói quen ứng xử đúng dan, phù hợp với các giá trị chuẩn mực thông qua một loạt các hoạt động như hoạt động giáo dục ngoàải giờ lên lớp, hoạt động tập thê. Hoạt động dạy học chủ yếu nhằm tác động về mặt nhận thức của học sinh nhằm hình thành cho họ sự nắm vững hệ thống tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng.2 Nang luc Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tô chức các kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị, động cơ cá nhân.
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức tạp của hoạt động trong một bối cảnh nhất định. Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp của kiến thức, kỹ năng và khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng đó để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Hay có thể được hiểu đơn giản là khả năng, hiệu suất công việc được chứng minh qua kết quả hoạt động thực tế. Trong tài liệu tập huấn “Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học”, năng lực là “tổ chức các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với yêu câu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả.
Hay nói cách khác, năng tực là khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ, .và thực hiện các nhiệm vụ trong hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn” [3, tr.3 Trải nghiệm Trải nghiệm là quá trình hoạt động để thu nhận những kinh nghiệm, từ đó vận dụng một cách có hiệu quả vào thực tiễn cuộc sống [7, tr. Sự trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người với môi trường xung quanh. Dưới góc nhìn sư phạm, trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà học sinh có được trong quá trình giáo dục và đào tạo thông qua sự giao tiếp, tương tác với nhau, với giáo viên hay với những tư liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường. Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kiến thức và kỹ năng, những nguyên tắc hoạt động và phát triển của xã hội được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Chương trình giáo phổ thông tổng thể ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đảo tạo nêu rõ mục tiêu giúp học sinh làm 6 chủ kiến thức, hình thành và phát triển hài hòa cả về thé chat và tinh thần, khả năng tự học, khả năng thích ứng với những thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. Cuộc cách mạng công nghiệp mới hay còn gọi là cuộc cách mạng 4.0 nổ ra đòi hỏi nguồn lao động trẻ có tri thức, năng lực thực tiễn, sáng tạo. Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ cho người dạy cần có sự thay đổi để phù hợp với yêu cầu của xã hội bởi sản phẩm đầu ra của giáo dục chính là sản phẩm đầu vào của nguồn kinh tế xã hội. Từ đó nền giáo dục quốc dân phải đưa ra nhiều phương pháp mới làm cho nền kinh tế xã hội phát triển thông qua một vài phương pháp dạy học mới trong đó có phương pháp học qua trải nghiệm.
Học qua trải nghiệm là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biến đối, chuyển hóa kinh nghiệm. Đó quá trình hành động, học sinh phải có sự vận động. Trong quá trình dạy học giáo viên phải tổ chức được hoạt động học tập cho người học, lồng ghép được các khái niệm mang tính học thuật với các bài học trong thế giới thực, xóa bỏ khoảng cách giữa kiến thức trên sách vở và ứng dụng thực tiễn. Chỉ khi nào người học được tham gia vào các hoạt động học tập thì khi đó người học mới chủ động lĩnh hội được tri thức.4 Hoạt động trải nghiệm Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thục hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thê hiện các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành trì thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai.” Theo định 7 hướng này, hoạt động trải nghiệm sẽ thực hiện tất cả các mục tiêu và nhiệm vụ của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thê.và thêm vào đó là những mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của giai đoạn mới.
Như vậy, khái niệm hoạt động học tập trải nghiệm trong nhà trường phổ thông có thể được hiểu là các hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành Song song với hoạt động dạy học trong nhà trường [14]. Thông qua các hoạt động thực hành, những việc làm cụ thể và các hành động của học sinh, hoạt động trải nghiệm sẽ khai thác kinh nghiệm của mỗi cá nhân, tạo cơ hội cho các em vận dụng một cách tích cực những kiến thức đã học vào thực tế và đưa ra những sáng kiến của mình, từ đó phát huy và nuôi dưỡng tính sáng tạo của mỗi cá nhân học sinh. Bản chất của học tập trải nghiệm chính là học thông qua làm và phản ánh, kết quả của trải nghiệm không quan trọng bằng quá trình thực hiện và những điều học được từ trải nghiệm đó. Khi được đưa vào các hoạt động trải nghiệm thực tế, học sinh sẽ có cơ hội nhìn vấn đề từ nhiều khía cạnh và các quan điểm khác nhau, tránh bị áp đặt và có cơ hội đưa ra các hướng xử lý thông minh sáng tạo có hiệu quả cao.2 Mô hình dạy học trải nghiệm sáng tao cua D.Kolb (1984) Mô hình học qua trải nghiệm của D.Kolb là một trong sé những mô hình được sử đụng rộng rãi nhất trong việc xây dựng bài giảng.
Mô hình đã “quy trình hóa” việc học với các giai đoạn và thao tác được mô tả như hình dưới đây: Sơ đô 1. Mô hình học tập trải nghiệm (Kolb, 1984) Trực tiếp trải nghiệm [1] Thực hành, ứng dụng kinh nghiệm [4] Quan sat, phản hồi [2] Khai quat, tổng hợp [3] Các bước trong quy trình được mô tả như sau: [1] Trải nghiệm trực tiếp: Người học tham gia trực tiếp vào một trải nghiệm mới thông qua các hoạt động, hành vi, thao tác cụ thể dé phát sinh kiến thức, kinh nghiệm của quy trình học tập. Kinh nghiệm quan trọng nhất là những kinh nghiệm thu được qua các giác quan người học có thể cảm nhận trực tiếp, rõ ràng. Ở bước này, học sinh trả lời cho câu hỏi: “Chuyện gì đã xảy ra?” [2] Quan sát, phản hồi: Người học quan sát, liên hệ, phân tích, đánh giá các kinh nghiệm vừa thu được và so sánh với các kinh nghiệm mà mình đã trải qua.
Trong quá trình quan sát, phân tích và so sánh đó, người học sẽ tự rút ra được các bài học cũng như có định hướng mới cho quá trình học. Tùy theo mỗi cá nhân, với việc liên hệ, tưởng tượng có hiệu quả sẽ có được các cải tiến, điều chỉnh và nâng cấp giúp cho quá trình học phát triển tốt hơn. Ở bước này, học sinh trả lời cho câu hỏi: “Tôi đã trải nghiệm điều gì?” 9 [3] Quan sát, tống hợp: Người học thu thập thông tin, phân tích những gì quan sát được, tạo ra các lý thuyết để giải thích các quan sát đó, sau đó chuyên hóa thành kinh nghiệm của riêng bản thân mình. Ở bước này, học sinh trả lời cho câu hỏi: “Tại sao điều này xảy ra?” [4] Thực hành, áp dụng kinh nghiệm: Người học sử dụng các lý thuyết, các kinh nghiệm vừa rút ra đưa vào thực tiễn để kiếm nghiệm.
Đây là bước cuối để người học lĩnh hội và kiếm chứng, xác nhận hoặc phủ định các khái niệm từ bước trước. Ở bước này, học sinh trả lời cho câu hỏi: “Tôi sẽ làm gi?” Khi thực hiện nhiệm vụ với nhiều vòng lặp như vậy, qua mỗi lần, vốn kiến thức và kỹ năng được cải thiện, từ đó học sinh dần đần đúc kết được vốn kinh nghiệm riêng cho mình. Ở cấp độ cơ bản Kolb (1974) xem học tập như một quá trình tích hợp, trong đó các giai đoạn bồ trợ cho nhau và cùng phát triển. Người học có thé tham gia bất kỳ giai đoạn nào của chu trình và thực hiện theo chu trình đó.