Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY CHỈNH TRỊ ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH TIỂU HỌC CHẬM PHÁT TRIỂN RANH GIỚI 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu về đọc và đọc hiểu Lịch sử nghiên cứu việc đọc có thể được bắt đầu bởi những công trình của các nhà thần kinh học kinh điển về đọc và rối loạn của nó. Đọc cũng được nghiên cứu trong tính phức tạp với tư cách là một quá trình tâm lý và mối quan hệ của đọc với các chức năng tâm lý cấp cao khác.
Trong nghiên cứu này đã cho rằng, chức năng chính của quá trình đọc là hiểu những gì đã viết (R. Iacobxơn) Đọc với tư cách là một quá trình tư duy được nhiều nhà nghiên cứu khác đề cập đến (Rubinxtein, Gadamer). Một số công trình khác đã nghiên cứu về sự tác động qua lại trong cấu trúc của việc đọc: mặt kỹ thuật của đọc và việc hiểu ở người đọc. + Nghiên cứu sự tác động qua lại của mức độ cảm giác - vận động và mức độ ngữ nghĩa trong khi đọc cũng như vai trò của bài khoá trong việc hiểu, tác giả J.
Morton cho rằng, , ở một người đọc có kinh nghiệm, khía cạnh cảm giác - vận động luôn tuân thủ nhiệm vụ chính của việc đọc, còn mục đích của nó là để hiểu [92] + Đọc là một quá trình mà ở đó, việc hiểu nghĩa của từ diễn ra trước việc nhận ra từ (F. + Nhận ra từ là sản phẩm của việc hiểu khi đọc (K. Thuật ngữ liên quan chỉ hiện tượng khó khăn về đọc cũng được sử dụng bởi bác sĩ nội khoa người Đức Rudlf Berlin từ năm 1872 để mô tả ca bệnh một người lớn bị mất khả năng đọc do tổn thương não [70]. 8 Sau đó, vào năm 1877, thuật ngữ "chứng mù đọc" cũng được dùng để chỉ một bệnh nhân là người lớn bị mất ngôn ngữ và mất khả năng đọc [83].
Các trường hợp mất khả năng đọc được các bác sĩ nêu ra đều là người lớn và đều có nguyên nhân liên quan đến tổn thương não. Các kết quả nghiên cứu về rối loạn đọc hiểu được phản ánh trong các công trình nghiên cứu về khó đọc như một hình thức biểu hiện hay một dạng cụ thể của khó đọc (khó đọc ở mức độ ngữ nghĩa) và có liên quan mật thiết với các hình thức khó đọc khác bởi mọi khiếm khuyết trong khi đọc đều làm hạn chế khả năng lĩnh hội thông tin từ tài liệu đọc, tức là khả năng hiểu bài đọc. Các hình thức rối loạn đọc khác nhau đều gây nên những khó khăn trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc hiểu bài đọc, như: rối loạn tri giác không gian khi đọc, "điếc từ”, rối loạn đọc ngôn ngữ trí nhớ - thị giác, rối loạn đọc do những khó khăn vận động trong đọc (theo V.Oltusevsky (1898) [99]; hiện tượng "mù đọc bằng mắt" (theo J. Ở góc độ TLH TK, các nhà nghiên cứu (A.
Xvetcova) đã cho rằng, việc khó đọc ở trẻ được thể hiện dưới các hình thức: 1/ khó đọc không liên quan đến chậm phát triển ngôn ngữ, bao gồm: khó đọc dạng quang học; khó đọc dạng thị giác - trí nhớ; khó đọc dạng thị giác - không gian. 2/ Khó đọc liên quan đến chậm phát triển ngôn ngữ: diễn ra đồng thời với các hình thức ngôn ngữ do chậm phát triển các vùng trên vỏ não, cụ thể: Chậm phát triển ngôn ngữ dạng cảm giác và ngôn ngữ trí nhớ - âm thanh liên quan đến vùng vỏ não thái dương; Chậm phát triển ngôn ngữ dạng vận động - hướng tâm và vận động - ly tâm liên quan đến vùng đỉnh dưới và vùng trán sau của bán cầu não trái. Nghiên cứu đã chỉ ra những triệu chứng chính - tiên phát của những khó khăn về đọc là những khiếm khuyết hoặc ở việc phân tích âm thanh - chữ cái của việc đọc hoặc do khiếm khuyết trong tri giác - thị giác, khiếm khuyết phân tích - tổng hợp âm thanh, do chậm luân chuyển bệnh lý của các quá trình ngôn ngữ, do khiếm khuyết của khâu giác động [11]. Và hoàn toàn đương nhiên, các khiếm khuyết trên đây của việc đọc sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong đọc hiểu.
9 Việc nghiên cứu bản chất, cơ chế của những khó khăn về đọc và đọc hiểu đang thu hút các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Galaburda và các đồng nghiệp của ông (1985) đã tiến hành nghiên cứu trên tử thi các ca được chẩn đoán là có dấu hiệu khó đọc. Tất cả các trường hợp đều cho thấy bằng chứng một vùng nhỏ có dị dạng vỏ não (được gọi là dị dạng phạm vi nhỏ) bao gồm sự thay đổi vị trí (các ổ nhỏ các nơ ron tại những vị trí bất thường) và sự thay đổi không bình thường của tế bào. Dị dạng phạm vi nhỏ thay đổi về khối lượng và vị trí tùy theo từng bộ não nhưng có khuynh hướng liên quan đến phần võ não xử lý ngôn ngữ [91].
Các nghiên cứu mới về thần kinh học nỗ lực tìm ra chính xác vị trí khu trú của các sai lệch trong cấu trúc não bộ cũng như sai lệch trong chức năng xử lý ngôn ngữ của não bộ ở người khó khăn về đọc và đọc hiểu [71]. Các lý thuyết về mối quan hệ giữa não và chứng khó đọc đã tập trung xem xét những tổn thương hoặc những dấu hiệu bất thường trong quá trình phát triển của não (2003) hay tìm kiếm mối quan hệ giữa những đặc điểm của hệ thần kinh, di truyền với chứng khó đọc (2007) [87]. Shaywitz và nhiều tác giả khác đã cho rằng: “người mắc chứng khó đọc sử dụng đường bộ não khác so với người đọc bình thường”, trong bình luận về vấn đề này, các tác giả đưa ra nhận định rằng: hình ảnh giải phẫu về sự phát triển và các chức năng trong não của một người mắc chứng khó đọc có sự khác biệt so với người bình thường. Theo Shaywitz, người đọc mắc chứng khó đọc có một sự sút kém của đường dẫn thần kinh đến phía sau của bộ não gây nên những rắc rối trong phân tích từ ngữ và chuyển chữ thành âm thanh [78].
Việc xác định tiêu chí nhận diện và đánh giá trẻ khó khăn về đọc được nhiều nhà tâm lý học quan tâm. Nhiều nhà nghiên cứu đồng ý với giả thuyết cho rằng khiếm khuyết về nhận thức âm vị và hạn chế về trí nhớ ngắn hạn là cốt lõi của khó khăn về đọc. Cũng theo hướng này, rất nhiều trắc nghiệm nhận diện khó khăn về đọc được xây dựng. Điển hình phải kể đến các nghiên cứu và trắc nghiệm của Snowling, Stothard, J.
10 Khó khăn về đọc cũng được lí giải bởi nguyên nhân là CPT các vùng chức năng trên não như trong nhiều nghiên cứu thuộc lĩnh vực TLH TK. Bằng phương pháp chẩn đoán đặc thù của TLH TK, các triệu chứng được mô tả ở dạng khó đọc kiểu quang học đã được xem xét trong sự liên quan đến CPT vùng chẩm - đỉnh và vùng chẩm bán cầu não trái; trên cơ sở đó các phương pháp hỗ trợ trong DCT được đề xuất tương ứng với cơ chế CPT nhằm bù trừ chức năng theo nguyên tắc hoạt động của não bộ (Võ Thị Minh Chí, 2013) [11]. Khó khăn về đọc được xem như là một dạng của khó học ở HSTH, có nguyên nhân từ ". trạng thái nằm ranh giới giữa bình thường và không bình thường, nhưng không phải thiểu năng trí tuệ (oligophrenia).
"của đứa trẻ. Kết quả thăm khám lâm sàng và kiểm tra điện não đồ cho thấy những học sinh khó học, (trong đó có khó đọc) có biểu hiện CPT các vùng chức năng trên não. Một số mô tả cụ thể cho thấy: Ở học sinh CPT các vùng sau của bán cầu trái, việc "vụng đọc" là do rối loạn về quang học; ở nhóm khác, việc khó đọc xuất phát từ khả năng nghe và phân biệt âm thanh - ngôn ngữ kém do rối loạn thính giác âm vị và trí nhớ âm thanh - ngôn ngữ. Tất cả những rối loạn đó gây ảnh hướng đến việc hiểu nghĩa các âm thanh ngôn ngữ và được biểu hiện tất cả các chức năng của hệ thống ngôn ngữ như chức năng viết, ngôn ngữ truyền đạt và cả ở chức năng đọc (Trần Trọng Thủy và cộng sự, 1993) [49].
Ngày nay, những nghiên cứu để phát hiện, nhận diện khó khăn về đọc và đọc hiểu ở học sinh đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ nhiều góc độ khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, ngôn ngữ học và cả y học. Nghiên cứu để xác định mức độ nguy cơ xuất hiện chứng khó đọc ở trẻ em và tìm hiểu những đặc điểm phát triển ngôn ngữ ở trẻ trên cơ sở phân tích tâm lý làm chủ hành vi đọc theo chuẩn; cơ chế, hình thức của chứng khó đọc và chỉ ra giá trị của việc phát hiện sớm chứng khó đọc ở học sinh lớp 1 (Abramova và Chaladze E. Với mục đích này, các phương pháp được giới thiệu trong công trình nghiên cứu này bao gồm : Phương pháp chẩn đoán sớm chứng khó đọc của Konheva A.M (1982); nghiên cứu mức độ năng lực trí tuệ từ phương pháp tích hợp; 11 Test - chẩn đoán ngôn ngữ nói của học sinh tiểu học của Fotekova T. Ở trẻ khó khăn về đọc, các dấu hiệu (như là thường "nhìn sự vật ngược lại; trẻ có vấn đề về nhận thức, thiếu khả năng trong những quan hệ không gian.) không qua nhanh như với lỗi của đa số trẻ ở giai đoạn bắt đầu học đọc (Richardson, 1992; Vogel, 1989); Đa số trẻ có khó khăn trong tập đọc rất chậm nói hoặc lời nói của chúng có thể ở mức độ phát triển thấp hơn so với những đứa trẻ cùng lứa tuổi; chúng khó khăn trong việc nhận biết các chữ cái và viết các từ; khó khăn trong việc nghe hai âm tiết riêng rẽ trong một từ có hai âm tiết (Shaywitz, 1991; Wagner & Torgerson, 1987) [dẫn theo 34].
Rối loạn đọc và viết được xem là một trong 8 dạng khuyết tật ngôn ngữ (mất ngôn ngữ, không có ngôn ngữ; nói khó, nói ngọng, nói lắp, rối loạn giọng điệu, rối loạn đọc viết, chậm ngôn ngữ). Vì vậy, việc thực hiện chiến lược can thiệp sớm, nhất trong giai đoạn trẻ bắt đầu hình thành ngôn ngữ hay tập nói, không những hạn chế được khuyết tật ngôn ngữ mà còn hạn chế được sự ảnh hưởng tới chức năng hoạt động của trí tuệ và các giác quan, đồng thời hạn chế được các tật phát sinh (Nguyễn Thị Kim Hiền, 2007) [23].