CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu ngoài nước liên quan đến FDI (Foreign Direct Investment) và phát triển bền vững (PTBV) chủ yếu được tiến hành để trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu: câu hỏi về mối quan hệ giữa FDI và PTBV; Câu hỏi về các yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa hai biến số này. Nghiên cứu về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, xã hội và môi trường “Nghiên cứu về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế hay các tác động của nó tới các vấn đề xã hội và môi trường có thể được thực hiện đơn lẻ theo từng khía cạnh.
Ngoài ra, các nghiên cứu đánh giá tác động của FDI tới phát triển bền vững đồng thời trên cả ba khía cạnh cũng được nhiều nghiên cứu tiến hành. Nghiên cứu về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế cho biết, FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nước nhận đầu tư thông qua quá trình tích lũy vốn với sự tham gia của các đầu vào sản xuất mới và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài. Các nghiên cứu thực nghiệm nhằm kiểm định mối quan hệ này đã được tiến hành hết sức đa dạng tại các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế cũng không đồng nhất với nhau khi FDI có thể tác động tích cực và tiêu cực; thậm chí không có tác động đến tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà.
Sự khác nhau này có thể là kết quả của việc lựa chọn các phương pháp ước lượng (OLS, phân tích nhân quả Granger,…) hay thời gian tiến hành nghiên cứu cũng như mẫu nghiên cứu.1 dưới đây tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trên các nội dung chính: dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các phát hiện của đề tài.” 8 luan an Bảng1.1: Khái quát các nghiên cứu về mối quan hệ/tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Tác giả Dữ liệu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Phát hiện của đề tài Choe (2003) 80 quốc gia trong giai đoạn 1971-1995 Phân tích mối quan hệ nhân FDI có mối quan hệ nhân quả Granger với tăng trưởng kinh tế. quả Granger Chowdhury và Chile, Malaysia, và Thailand 1969- Phân tích vector tự hồi quy Mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Mavrotas (2006) 2000. Malaysia and Thailand. Shaikh (2010) 47 quốc gia đang phát triển 1981- 1999 Phân tích hồi quy OLS Mối quan hệ cùng chiều trong các ngành sản xuất giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Cùng chiều Al-Iriani (2007) Các quốc gia Ả Rập thống nhất (1970- Phân tích mối quan hệ nhân FDI là nguyên nhân của tăng trưởng kinh tế 2004) quả Granger Shaikh (2010) Malaysia (1970-2005) Phân tích hồi quy OLS Mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Umoh, Jacob và Nigeria (1970-2008) Các mô hình nghiên cứu đơn Mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê giữa FDI và tăng Chuku (2012) trưởng kinh tế.
De Mello (1999) 32 quốc gia phát triển và đang phát triển Kiểm định tính dừng Không có nhiều bằng chứng về tác động của FDI tới tăng trưởng Không mạnh (1970- 1990) kinh tế. Manuchehr và Denmark, Finland, Sweden, và Norway Hồi quy tự tương quan với sai Không có mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Ericsson (2001) (1970-1997) phân trễ Finland Chowdhury và Chile, Malaysia, và Thailand (1969- Hồi quy tự tương quan với sai Không có mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại Chile Không có Mavrotas (2006) 2000) phân trễ quan hệ Chakraborty và India (1987-2000) Kiểm định nhân quản Granger Không có mối quan hệ nhân quả Nunnenkamp (2006) Sarkar (2007) 51 quốc gia kém phát triển (1970- 2002) OLS và hồi quy OLS fixed và Không có mối quan hệ dài hạn giữa FDI và tăng trưởng kinh tế. mô hình tác động ngẫu nhiên. Shaikh (2010) 47 quốc gia đang phát triển (1981- Hồi quy OLS Mối quan hệ ngược chiều ở một số lĩnh vực Ngược chiều 1999) Khaliq và Noy (2007) Indonesia (1998- 2006) Hồi quy OLS Tác động ngược chiều ở một số lĩnh vực Nguồn: Tổng hợp của tác giả 9 luan an 1.
Nghiên cứu về các tác động của FDI tới môi trường và các vấn đề xã hội Khi bàn tới tác động của FDI tới môi trường, các nhà nghiên cứu thường đề cập tới giả thuyết “nơi ẩn giấu ô nhiễm” khi dòng vốn FDI có thể được thực hiện để “tìm kiếm nơi chôn cất chất thải không xử lý được mà ở các quốc gia phát triển, doanh nghiệp không được phép thực hiện hay không thể thực hiện, do những quy định rất nghiêm ngặt về môi trường, chi phí xử lý và thuế suất xả thải rất cao. Chính vì vậy, Gray (2002) Petrovic và Randjelovic (2007) cho rằng, các quốc gia có các” quy định về môi trường lỏng lẻo sẽ dễ trở thành một “nơi ẩn giấu ô nhiễm” 104, 129. “Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng, FDI cũng có thể giúp cải thiện môi trường nước sở tại nhờ các hiệu ứng lan tỏa do việc sử dụng các công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường của doanh nghiệp FDI. Trong các nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của FDI tới môi trường của nước tiếp nhận, thường bổ sung biến số liên quan đến chính sách quản lý môi trường của các nước này.
Các nghiên cứu điển hình liên quan đến các giả thuyết về môi trường là các nghiên cứu của Nuzhat (2009), Jyun-Yi và cộng sự (2008); Abbas và cộng sự (2011). Bên cạnh tác động tới môi trường, các nghiên cứu về sự tác động của FDI tới các vấn đề xã hội thường tập trung vào việc nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và bất bình đẳng thu nhập. Yu và cộng sự (2011) đánh giá sự tác động của FDI tới sự bất bình đẳng về thất nghiệp giữa các địa phương của Trung Quốc 88, sử dụng mô hình hồi quy Shapley và phát hiện ra rằng, FDI đóng góp 2% vào sự bất bình đẳng trong thu nhập giữa các địa phương này bên cạnh 2 yếu tố khác là vị trí địa lý và trình độ giáo dục của địa phương. Chintrakarn và cộng sự (2010) nghiên cứu sự ảnh hưởng của FDI tới bất bình đẳng thu nhập tại các bang thuộc Hoa Kỳ sử dụng các mô hình đồng kết hợp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong ngắn hạn, tác động của FDI tới bất bình đẳng thu nhập là không đáng kể 91. Tuy nhiên, trong dài hạn, FDI lại là một yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đáng kể và có ý nghĩa thống kê tới bất bình đẳng thu nhập tại Hoa Kỳ trong khoảng thời gian nghiên cứu. Tương tự như vậy, Herzer và Nunnenkamp (2011) khi nghiên cứu đối với các quốc gia châu Âu 10 luan an trong giai đoạn 1980-2000 cũng cho thấy ảnh hưởng của FDI tới bất bình đẳng thu nhập là không giống nhau trong ngắn hạn và dài hạn 107. Nghiên cứu tác động của FDI tới phát triển bền vững Trong vài thập kỷ vừa qua, nghiên cứu về vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế trên bình diện vi mô, vĩ mô và toàn cầu đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới.
Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã không chỉ đề cập đến phát triển kinh tế đơn thuần mà là phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường, giải quyết các vấn đề xã hội, từ đó đặt ra câu hỏi nghiên cứu về sự tác động của FDI tới phát triển bền vững. Viktoria và cộng sự (2019) tiến hành nghiên cứu về tác động của FDI tới các mục tiêu của phát triển bền vững tại châu Phi, sử dụng dữ liệu nghiên cứu từ 44 quốc gia châu Phi. Kết quả phân tích sử dụng mô hình probit thứ bậc cho thấy, mặc dù FDI có một số tác động tiêu cực tới môi trường tại một số quốc gia, nhưng nhìn chung, FDI có tác động tích cực đến các mục tiêu phát triển bền vững tại các quốc gia châu Phi. Đặc biệt, trong nghiên cứu này, Viktoria và cộng sự (2019) đã lần lượt dùng các biến mô tả từng mục tiêu của phát triển bền vững, theo chỉ dẫn của Hội nghị về Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc – UNCTAD làm biến phụ thuộc trong mô hình.
Các biến độc lập gồm có FDI và các biến kinh tế vĩ mô, như GPD, dân số, chi tiêu Chính phủ,… Phát hiện quan trọng của nghiên cứu là vai trò của nền chính trị tại các quốc gia có ảnh hưởng tới đóng góp của FDI cho PTBV. Nghiên cứu của Abdul và cộng sự (2017) đánh giá sự ảnh hưởng của FDI tới cả ba trụ cột của phát triển bền vững, là tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và môi trường của Singapore trong giai đoạn 1970 đến 2013. Là một trong các quốc gia sáng lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Singapore được biết đến là một quốc gia đứng thứ 5 trong thu hút FDI trên toàn thế giới, theo thống kê thực hiện bởi UNCTAD (2015). Sử dụng phương pháp ước lượng ARDL (Autoregressive Distributed Lag), kết quả nghiên cứu cho thấy, dòng vốn FDI đã có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế và cải thiện môi trường tại Singapore, nhưng cũng gây ra sự bất bình đẳng về phân phối thu nhập ở đất nước này.
11 luan an Simionescu (2016) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững dưới góc độ phát triển kinh tế và phát triển xã hội tại Romania xét ở góc độ các vùng miền của nước này trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2014. Trong nghiên cứu này, mối quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững được lượng hóa bằng cách xây dựng mô hình thống kê, với biến tốc độ tăng trưởng GDP thực tế đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ nghèo đói đại diện cho sự phát triển xã hội và tỷ lệ FDI của từng vùng so với cả nước đại diện cho nguồn vốn FDI trong từng thời kỳ nhất định 132. Từ đó, tác giả đã xây dựng các mô hình phân tích tự hồi quy đối với dữ liệu chuỗi thời gian: - Mô hình thứ nhất gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế là biến phụ thuộc, chịu tác động của hai biến độc lập là tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm trước đó và FDI của năm trước đó. - Mô hình thứ hai: biến FDI là biến phụ thuộc, chịu tác động của hai biến độc lập là biến tốc độ tăng trưởng kinh tế và FDI của năm trước đó.