Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Hằng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Dương Đình Giám và TS. Lê Xuân Sang, chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số 9.05), tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, hoàn thành năm 2020.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một bộ phận hữu cơ và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Tại tỉnh Thái Nguyên, công tác thu hút FDI đã có những bước gia tăng nhảy vọt: nếu như năm 2011 toàn tỉnh chỉ có 5 doanh nghiệp FDI thì đến hết năm 2017 đã thu hút được 131 dự án. Đặc biệt, sự kiện cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Tổ hợp công nghệ cao Samsung vào năm 2014 đã đưa Thái Nguyên lên vị trí dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI với 3,27 tỷ USD, tạo bước chuyển dịch mạnh mẽ từ một địa phương có giá trị sản xuất công nghiệp chủ yếu dựa vào khai khoáng, luyện kim sang công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp phụ trợ, đồng thời nâng giá trị xuất khẩu lên hàng tỷ USD. Tuy nhiên, đi liền với tăng trưởng là những nguy cơ đe dọa phát triển bền vững như ô nhiễm môi trường (từ các bài học thực tiễn như sự cố Vedan năm 2006 hay Formosa năm 2016), nguy cơ nhập khẩu công nghệ lạc hậu, sử dụng lãng phí tài nguyên và làm mất sinh kế truyền thống của nông dân mất đất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI tại Thái Nguyên phần lớn tìm kiếm lợi thế nhân công giá rẻ, chủ yếu tuyển dụng lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề, ngành công nghiệp hỗ trợ tại địa phương gần như chưa hình thành khiến tác động lan tỏa sang các doanh nghiệp bản địa còn hạn chế, các dự án tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại một số khu công nghiệp phía nam (Phổ Yên, Sông Công, Phú Bình) mà thiếu vắng ở khu vực nông nghiệp, dịch vụ, tài chính. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá toàn diện tác động của FDI đến phát triển bền vững tại Thái Nguyên là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đánh giá hoạt động thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững (PTBV) của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2000-2017, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động này cho tới năm 2025. Để thực hiện mục tiêu tổng quát, tác giả xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng thu hút FDI theo hướng PTBV tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2000-2017.
  2. Rà soát các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút FDI theo hướng PTBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
  3. Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thu hút FDI theo hướng PTBV tại tỉnh Thái Nguyên cho tới năm 2025.

Luận án đặt ra và tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thu hút FDI có mối quan hệ như thế nào tới PTBV? Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến thu hút FDI theo hướng PTBV?
  2. Thực trạng thu hút FDI tại tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua như thế nào? Đã đáp ứng được mục tiêu PTBV chưa?
  3. Tỉnh Thái Nguyên cần có những giải pháp gì nhằm tăng cường thu hút FDI gắn với mục tiêu phát triển bền vững?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động thu hút FDI theo hướng PTBV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Hoạt động thu hút FDI theo hướng PTBV trên cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.
  • Về không gian: Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài triển khai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
  • Về thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực trạng các dự án giai đoạn 2000-2017 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2025. Khoảng thời gian 2000-2017 được lựa chọn vì trước giai đoạn này Thái Nguyên hầu như chưa thu hút được các dự án FDI có quy mô đáng kể.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước và trong nước được tác giả thực hiện một cách có hệ thống, phân loại theo các nhánh chủ đề nghiên cứu:

Đối với các nghiên cứu ngoài nước về quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, tác giả điểm lại nhiều công trình thực nghiệm với kết quả đa chiều:

  • Choe (2003) phân tích nhân quả Granger trên dữ liệu 80 quốc gia giai đoạn 1971-1995 khẳng định quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng.
  • Chowdhury và Mavrotas (2006) sử dụng mô hình vector tự hồi quy (VAR) đối với Chile, Malaysia và Thái Lan (1969-2000), phát hiện quan hệ hai chiều tại Malaysia và Thái Lan nhưng không tìm thấy quan hệ tại Chile.
  • Shaikh (2010) áp dụng hồi quy OLS trên 47 quốc gia đang phát triển (1981-1999) chỉ ra quan hệ cùng chiều trong ngành sản xuất nhưng ngược chiều ở một số lĩnh vực khác; đồng thời nghiên cứu riêng tại Malaysia (1970-2005) cũng cho thấy tác động cùng chiều.
  • Al-Iriani (2007) kiểm định nhân quả Granger tại các quốc gia Ả Rập thống nhất giai đoạn 1970-2004 xác nhận FDI là nguyên nhân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
  • Umoh, Jacob và Chuku (2012) tại Nigeria (1970-2008) ghi nhận mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa thống kê.
  • Ngược lại, De Mello (1999) kiểm định tính dừng tại 32 quốc gia phát triển và đang phát triển (1970-1990) tìm thấy rất ít bằng chứng tác động; Manuchehr và Ericsson (2001) tại 4 nước Bắc Âu cho thấy không có quan hệ tại Phần Lan; Chakraborty và Nunnenkamp (2006) tại Ấn Độ (1987-2000) và Sarkar (2007) tại 51 nước kém phát triển (1970-2002) đều không phát hiện mối quan hệ nhân quả dài hạn; Khaliq và Noy (2007) tại Indonesia (1998-2006) phát hiện tác động ngược chiều ở một số ngành.
Tác giả Mẫu nghiên cứu và thời gian Phương pháp sử dụng Phát hiện chính
Choe (2003) 80 quốc gia (1971-1995) Kiểm định nhân quả Granger FDI và tăng trưởng có mối quan hệ hai chiều
Chowdhury & Mavrotas (2006) Chile, Malaysia, Thái Lan (1969-2000) Vector tự hồi quy (VAR) Quan hệ hai chiều tại Malaysia, Thái Lan; không có ở Chile
Shaikh (2010) 47 nước đang phát triển (1981-1999) Hồi quy OLS Cùng chiều ở ngành sản xuất, ngược chiều ở một số ngành
Al-Iriani (2007) Khối Ả Rập thống nhất (1970-2004) Kiểm định nhân quả Granger FDI là nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng kinh tế
Sarkar (2007) 51 nước kém phát triển (1970-2002) OLS, Fixed Effects, Random Effects Không có mối quan hệ dài hạn giữa FDI và tăng trưởng
Abdul và cs (2017) Singapore (1970-2013) Mô hình ARDL Tác động tích cực tới tăng trưởng và môi trường, nhưng làm tăng bất bình đẳng thu nhập
Simionescu (2016) Romania (2005-2014) Mô hình chuỗi thời gian tự hồi quy Tăng trưởng phụ thuộc vào FDI năm trước, nhưng FDI không tác động đến giảm nghèo
Kaur (2014) Ấn Độ và các nước châu Á (2004-2011) Phân tích tương quan Tương quan âm giữa FDI và tăng trưởng (-0,32); tương quan dương mạnh giữa FDI và CO2 (0,988)
Voica, Panait & Haralambie (2015) 28 nước EU (2000-2012) Hồi quy dữ liệu mảng Việc làm người cao tuổi, nghèo đói tác động ngược chiều tới FDI; thuế môi trường tác động cùng chiều

Về khía cạnh môi trường và xã hội, các nghiên cứu quốc tế tập trung vào hai luồng quan điểm đối lập: Giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven Hypothesis) được Gray (2002), Petrovic và Randjelovic (2007) chứng minh khi các doanh nghiệp chuyển chất thải ô nhiễm sang các nước có quy định lỏng lẻo; ngược lại, Giả thuyết cải thiện ô nhiễm (Pollution Halo Hypothesis) do Birdsall và Wheeler (1993), Zugravu-Soilita (2015), Dean và cs (2009) khẳng định các tập đoàn đa quốc gia có thể mang lại công nghệ sạch hơn cho nước sở tại nếu có khung pháp lý kiểm soát chặt chẽ. Về mặt xã hội, Yu và cs (2011) dùng mô hình hồi quy Shapley tại Trung Quốc chỉ ra FDI đóng góp 2% vào bất bình đẳng thu nhập; Chintrakarn và cs (2010) tại Hoa Kỳ và Herzer và Nunnenkamp (2011) tại châu Âu cho thấy trong ngắn hạn tác động của FDI tới bất bình đẳng là không đáng kể nhưng trong dài hạn là tác động tiêu cực rõ nét. Nghiên cứu của Viktoria và cs (2019) dùng mô hình probit thứ bậc tại 44 nước châu Phi dựa trên bộ chỉ số của UNCTAD cho thấy FDI nhìn chung có tác động tích cực đến các mục tiêu PTBV nhưng chịu ảnh hưởng lớn từ thể chế chính trị. Te Velde (2003), Wu và Hsu (2012), Choi (2006) nhấn mạnh vai trò của năng lực hấp thu (absorptive capacity) của nước tiếp nhận bao gồm trình độ nhân lực, cơ sở hạ tầng và chính sách đào tạo.

Đối với các nghiên cứu trong nước, ở cấp độ quốc gia, Nguyễn Tiến Dũng (2018), Đinh Hồng Linh và Trần Văn Nguyện (2018), Đinh Khánh Lê (2017), Nguyễn Minh Kiều và cs (2016), Nguyễn Thị Mai Hương và Trần Thị Mơ (2014), Hoàng Đức Thân và cs (2016) đã phân tích các tác động vĩ mô của FDI. Nguyễn Mại (2013) chỉ ra mặt trái của FDI tại Việt Nam như chuyển giá, trốn thuế, nhập khẩu công nghệ cũ, nguy cơ biến thành bãi rác thải công nghiệp. Đào Thị Bích Thủy (2012), Nguyễn Xuân Trung (2012) đưa ra quan niệm về "FDI có chất lượng", Nguyễn Thị Liên Hoa và cs (2010) bàn về "FDI sạch", Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng (2006), Nguyễn Thị Tuệ Anh và cs (2005), Trần Thanh Bình (2007) phân tích tính hai mặt của FDI đối với việc làm, phân hóa giàu nghèo và suy thoái môi trường. Ở cấp độ địa phương và khu công nghiệp, Nguyễn Hồng Hà (2016 tại Trà Vinh), Đỗ Thị Hương và Phạm Thị Thu Dung (2016 tại Hưng Yên), Nguyễn Thị Thanh Mai (2016 tại Đồng bằng sông Hồng), Hồ Thị Thanh Mai và Phạm Thị Thanh Thủy (2016 tại Khánh Hòa), Lê Hoằng Bá Huyền (2015 tại Thanh Hóa), Trịnh Văn Thiện (2017 tại Hải Dương), Nguyễn Thị Thu Hà (2018 tại Hải Dương) đã phân tích thực trạng dòng vốn. Lê Thế Giới (2008), Nguyễn Thị Bình (2011), Nguyễn Hữu Khiếu (2014) xây dựng các bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững nội tại và tác động lan tỏa của các khu công nghiệp. Riêng tại khu vực miền núi phía Bắc và Thái Nguyên, các nghiên cứu của Ngô Thị Tuyết Mai (2013), Nguyễn Tiến Long (2014), Nguyễn Thị Thúy Vân (2017) đã tiếp cận vấn đề thu hút FDI và công nghiệp hóa. Các nghiên cứu về nhân tố thu hút FDI có thể kể đến Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014, phương pháp FGLS tại 30 nước), Nguyễn Mạnh Toàn (2010), Trịnh Minh Tâm (2015), Phạm Thế Anh và Chu Thị Mai Phương (2015), Ngô Phúc Hạnh và cs (2017), Lê Văn Thắng và Nguyễn Lưu Bảo Đoan (2017), Huỳnh Thế Nguyễn (2018 dùng mô hình không gian SDM), Nguyễn Thị Thương (2016), Đỗ Thị Thu Thủy và cs (2017), Trần Kim Cương (2015), Võ Văn Dứt và Nguyễn Thị Phương Nga (2015), Hà Nam Khánh Giao và cs (2015), Nguyễn Chiến Thắng (2014 về phân cấp quản lý ĐTNN).

Từ việc tổng quan tài liệu, luận án xác định 3 khoảng trống nghiên cứu chính:

  1. Khi đánh giá mối quan hệ giữa FDI và PTBV ở cấp độ địa phương, các nhân tố thuộc về nội tại địa phương (như chính sách phát triển bền vững, quy hoạch kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, cải cách hành chính) và nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp FDI chưa được phân tích toàn diện.
  2. Các nghiên cứu đã có trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên mới chỉ tập trung phân tích đơn lẻ một khía cạnh của PTBV kinh tế (như chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc công nghiệp hóa) trong giai đoạn trước khi xuất hiện làn sóng bùng nổ FDI từ các tập đoàn lớn.
  3. Các nghiên cứu trước đây rất hạn chế trong việc tiến hành điều tra, khảo sát thực tế ý kiến của cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh các khu công nghiệp chịu tác động trực tiếp của các dự án FDI.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp cận khái niệm FDI theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Luật Đầu tư năm 2014 của Việt Nam, xác định FDI là hình thức đầu tư dài hạn gắn liền với quyền kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài thông qua thành lập doanh nghiệp mới, mua lại và sáp nhập (M&A), liên doanh hoặc thực hiện hợp đồng dự án. Khái niệm phát triển bền vững được kế thừa từ định nghĩa kinh điển của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987), quan điểm của IUCN, UNDP & WWF (1991), Klarin (2018) và Spangenberg (2002), khẳng định PTBV tại địa phương là sự phát triển hài hòa trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường có tính đến đặc thù văn hóa vùng lãnh thổ, vận dụng theo quy trình 4 bước của Jovovic và cs (2017). Luận án cũng vận dụng khung chiến lược của UNCTAD, ESCAP (2011, 2015), Hiệp ước Monterrey (2012) và Chương trình hành động Addis Ababa (2015) về thu hút FDI gắn với PTBV.

Các lý thuyết nền tảng được tác giả hệ thống hóa gồm:

  • Lý thuyết lợi thế so sánh và Lý thuyết lợi thế cạnh tranh: Giải thích động cơ phân bổ dòng vốn FDI dựa trên chi phí tài nguyên, nhân công và môi trường thể chế.
  • Lý thuyết tác động tràn (spillover): Phân tích khả năng chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản trị và liên kết chuỗi sản xuất giữa khu vực FDI và doanh nghiệp bản địa.
  • Lý thuyết chiết trung OLI của Dunning (1977, 1996): Giải thích quyết định đầu tư dựa trên lợi thế sở hữu (O), lợi thế địa điểm (L) và lợi thế nội bộ hóa (I).
  • Giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm (Pollution Haven Hypothesis) và Giả thuyết cải thiện ô nhiễm (Pollution Halo Hypothesis): Đóng vai trò khung giải thích các tác động môi trường của FDI tại các nước đang phát triển.
  • Lý thuyết về chính sách và xúc tiến đầu tư theo 3 cấp độ (chiến lược, luật định, thực thi thể chế) và mô hình xúc tiến đầu tư theo Loewendahl (2001), Harding và Javorcik (2007, 2011, 2012), Moran (2011), Te Velde (2003).

Tác giả đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động của FDI đến PTBV địa phương gồm 3 nhóm tiêu chí: tiêu chí kinh tế (Bảng 2.1), tiêu chí xã hội (Bảng 2.2) và tiêu chí môi trường (Bảng 2.3).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu lý thuyết và báo cáo thực tiễn; phương pháp phân tích thống kê mô tả và thống kê suy luận; phương pháp chuyên gia (trao đổi, phỏng vấn trực tiếp các nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện doanh nghiệp FDI).
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng được xây dựng dựa trên nguồn dữ liệu điều tra sơ cấp gồm 2 cuộc khảo sát độc lập:
    1. Khảo sát cộng đồng dân cư: Tiến hành điều tra 60 người dân sinh sống xung quanh 6 khu công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên (10 người trên mỗi khu công nghiệp). Đối tượng được chọn là tổ trưởng, tổ phó tổ dân phố, trưởng thôn và phó thôn. Bảng hỏi gồm 21 câu hỏi đóng (trả lời đồng ý hoặc không đồng ý) tại Phụ lục 05 nhằm đánh giá tác động thực tế của doanh nghiệp FDI đến đời sống kinh tế, an sinh xã hội và môi trường sinh thái.
    2. Khảo sát cán bộ quản lý: Thu thập 140 phiếu khảo sát từ cán bộ, công chức thuộc 07 cơ quan quản lý nhà nước liên quan trực tiếp đến hoạt động thu hút và quản lý FDI trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, bao gồm: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Bảo vệ môi trường, Trung tâm Khuyến công và phát triển công nghiệp, Trung tâm Xúc tiến thương mại, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên. Trong mỗi cơ quan, mẫu bao gồm khoảng 15 chuyên viên trực tiếp thực thi và 5 cán bộ quản lý (1 lãnh đạo cấp Sở/Chi cục/Trung tâm và 4 lãnh đạo cấp phòng). Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert (Phụ lục 06).
  • Kỹ thuật phân tích định lượng: Sử dụng phần mềm thống kê để đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach's alpha (Phụ lục 07), phân tích nhân tố khám phá EFA với kiểm định Bartlett (Bảng 3.16), phân tích giá trị Eigenvalue (Phụ lục 09), ma trận xoay (Phụ lục 10) và ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Bảng 3.20, 3.22) kết hợp kiểm định ANOVA (Bảng 3.21). Mô hình hồi quy xác định mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là Đánh giá thực trạng thu hút FDI theo hướng PTBV tại tỉnh Thái Nguyên với 3 nhóm biến độc lập: biến YT1 (nhân tố thuộc về nhà nước trung ương), biến YT2 (nhân tố thuộc về địa phương) và biến YT3 (nhân tố thuộc về doanh nghiệp FDI).
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2000-2017 của UBND tỉnh và số liệu hoạt động của Công ty Samsung.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát triển bền vững

Chương 1 tập trung hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mối quan hệ giữa FDI và phát triển bền vững. Tác giả phân tích các bằng chứng thực nghiệm về tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập xã hội và môi trường sinh thái, trong đó làm rõ các tranh luận lý thuyết giữa giả thuyết nơi ẩn giấu ô nhiễm và giả thuyết cải thiện ô nhiễm. Đồng thời, chương này tổng kết các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI ở cấp độ quốc gia, vùng kinh tế và địa phương, từ đó chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu về mặt nội dung, không gian địa bàn và phương pháp tiếp cận điều tra sơ cấp đối với tỉnh Thái Nguyên.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững

Chương 2 làm rõ các khái niệm cơ bản về FDI, nội hàm phát triển bền vững 3 trụ cột và khái niệm thu hút FDI theo hướng PTBV. Tác giả phân tích các lý thuyết kinh tế giải thích mối quan hệ giữa FDI và PTBV (lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, tác động tràn, lý thuyết chiết trung), đồng thời luận giải hệ thống các nhân tố tác động phân chia theo ba nhóm chủ thể: cơ quan quản lý trung ương, chính quyền địa phương và doanh nghiệp FDI. Chương này xây dựng khung phân tích của luận án (Sơ đồ 2.2), thiết lập bộ tiêu chí đánh giá định lượng và định tính đối với tác động của FDI trên cả 3 phương diện kinh tế, xã hội, môi trường (Bảng 2.1, 2.2, 2.3), phân tích nội dung chính sách thu hút FDI theo 3 cấp độ và quy trình xúc tiến đầu tư (Sơ đồ 2.1), kết hợp đúc kết bài học kinh nghiệm từ một số quốc gia và địa phương trong nước phục vụ cho tỉnh Thái Nguyên.

Chương 3: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000-2017

Chương 3 trình bày bức tranh toàn diện về thu hút FDI tại Thái Nguyên trong mốc thời gian 18 năm. Về mặt chính sách, chương phân tích các định hướng lớn, công tác cải cách hành chính, chính sách lao động, xúc tiến đầu tư và quy định bảo vệ môi trường của tỉnh. Về kết quả quy mô và cơ cấu, số liệu phản ánh sự phát triển đột biến: từ 5 doanh nghiệp FDI năm 2011 tăng lên 131 dự án vào năm 2017; năm 2014 dẫn đầu cả nước với 3,27 tỷ USD vốn đăng ký nhờ dự án Tổ hợp công nghệ cao Samsung; cơ cấu đối tác đầu tư tập trung chủ yếu vào Hàn Quốc và phân bố ngành tập trung cao độ vào công nghiệp chế biến, chế tạo tại các huyện, thị phía nam (Phổ Yên, Sông Công, Phú Bình).

Đánh giá tác động theo 3 trụ cột:

  • Về kinh tế: Khu vực FDI đóng góp vượt bậc vào tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương, đưa giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đạt hàng tỷ USD, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ khai khoáng, luyện kim sang công nghệ cao. Tuy nhiên, tỷ lệ nộp ngân sách so với quy mô doanh thu còn khiêm tốn do ưu đãi thuế, các ngành công nghiệp hỗ trợ nội địa chậm phát triển, mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp địa phương rất yếu.
  • Về xã hội: Tạo việc làm trực tiếp cho hàng chục nghìn lao động địa phương và các tỉnh lân cận, cải thiện thu nhập bình quân của người dân. Dù vậy, phần lớn doanh nghiệp sử dụng lao động phổ thông chưa qua đào tạo nghề, nảy sinh chênh lệch thu nhập giữa các nhóm lao động và gia tăng áp lực hạ tầng dịch vụ công, nhà ở, trật tự xã hội xung quanh các khu công nghiệp.
  • Về môi trường: Gia tăng khối lượng chất thải công nghiệp, nước thải và khí thải, đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý của Chi cục Bảo vệ môi trường và hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các KCN.

Chương 3 công bố kết quả khảo sát sơ cấp 60 người dân tại 6 KCN (Bảng 3.9 về kinh tế, Bảng 3.14 về xã hội, Bảng 3.15 về môi trường) và kết quả phân tích định lượng từ 140 phiếu khảo sát cán bộ. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 3.16, 3.17, 3.18, 3.19) và hồi quy tuyến tính (Bảng 3.20, 3.21, 3.22) chứng minh các nhóm nhân tố thuộc về nhà nước trung ương (YT1), địa phương (YT2) và doanh nghiệp FDI (YT3) đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến thực trạng thu hút FDI theo hướng PTBV. Từ đó, tác giả chỉ ra các nguyên nhân hạn chế xuất phát từ khâu quy hoạch, cơ chế thẩm định công nghệ, năng lực hấp thu của doanh nghiệp trong nước và công tác giám sát môi trường.

Chương 4: Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hướng phát triển bền vững tại tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025

Trên cơ sở phân tích bối cảnh kinh tế quốc tế và trong nước, chương 4 xác định quan điểm và định hướng thu hút FDI gắn với mục tiêu PTBV của tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia theo 3 nhóm đối tượng thực thi:

  1. Nhóm giải pháp đối với cơ quan quản lý nhà nước địa phương: Hoàn thiện quy hoạch các khu, cụm công nghiệp gắn với tiêu chuẩn môi trường; nâng cao hiệu lực cải cách thủ tục hành chính; đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động tiếp cận các dự án công nghệ sạch; đẩy mạnh liên kết đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của doanh nghiệp FDI; phát triển các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nội địa nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa; tăng cường thanh tra, kiểm tra và quan trắc môi trường độc lập.
  2. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp FDI: Chú trọng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR); xây dựng lộ trình chuyển giao công nghệ tiên tiến; tăng cường hợp tác với các cơ sở đào tạo tại Thái Nguyên để nâng cao tay nghề cho công nhân; tuân thủ nghiêm ngặt quy trình xử lý chất thải theo cam kết đánh giá tác động môi trường.
  3. Nhóm kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước trung ương: Hoàn thiện khung pháp luật về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài nhằm tránh cạnh tranh tiêu cực giữa các địa phương; xây dựng hàng rào kỹ thuật sàng lọc công nghệ lạc hậu; hoàn thiện cơ chế thanh tra, chống chuyển giá và trốn thuế của các tập đoàn đa quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có các đóng góp khoa học chính:

  • Hệ thống hóa và phân loại rõ ràng 3 nhóm nhân tố tác động đến hoạt động thu hút FDI theo hướng phát triển bền vững của một địa phương, bao gồm: nhóm nhân tố thuộc về nhà nước trung ương, nhóm nhân tố thuộc về chính quyền địa phương và nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp FDI.
  • Xây dựng và đề xuất bộ tiêu chí toàn diện đánh giá tác động của dòng vốn FDI đối với sự phát triển bền vững của một vùng lãnh thổ (quốc gia hoặc địa phương) tích hợp đồng thời trên cả 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, tạo khung phân tích có thể ứng dụng cho các địa bàn khác.

Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp các phát hiện và giải pháp:

  • Phác họa bức tranh thực trạng thu hút FDI tại Thái Nguyên xuyên suốt 18 năm (2000-2017), chỉ rõ bước ngoặt bứt phá về quy mô vốn đăng ký (nổi bật là dự án Samsung năm 2014 đạt 3,27 tỷ USD) và những hạn chế nội tại về tính bền vững.
  • Sử dụng kết hợp dữ liệu thống kê thứ cấp và dữ liệu điều tra sơ cấp (từ 60 người dân tại 6 KCN và 140 cán bộ, nhà quản lý tại 7 cơ quan công quyền cấp tỉnh), lượng hóa thành công các nhân tố ảnh hưởng thông qua mô hình phân tích nhân tố EFA và kiểm định hồi quy.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và kiến nghị cụ thể cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn 2030, phục vụ việc điều chỉnh chính sách thu hút FDI của tỉnh từ mở rộng theo số lượng sang chọn lọc theo chất lượng, bảo vệ môi trường sinh thái và thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án cho thấy một số điểm xuất phát từ phạm vi và dữ liệu nghiên cứu:

  • Mẫu khảo sát sơ cấp đánh giá tác động của FDI đối với cộng đồng dân cư mới dừng lại ở quy mô 60 người tại 6 khu công nghiệp, tập trung chủ yếu vào nhóm đối tượng là trưởng thôn, phó thôn, tổ trưởng và tổ phó tổ dân phố. Dù đảm bảo tính am hiểu thông tin địa bàn, mẫu khảo sát này chưa bao quát trực tiếp các tầng lớp người lao động, công nhân ngoại tỉnh đang thuê trọ.
  • Mẫu khảo sát định lượng 140 phiếu tập trung vào khối cán bộ, công chức thuộc 07 cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh Thái Nguyên, chưa mở rộng thu thập dữ liệu định lượng tương ứng từ phía các nhà điều hành doanh nghiệp FDI.
  • Khung thời gian dữ liệu thực trạng kết thúc ở năm 2017, do đó các chuyển biến chính sách và diễn biến dòng vốn FDI sau giai đoạn này chưa được phản ánh trực tiếp trong mô hình thực nghiệm.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học đối với lực lượng công nhân làm việc trực tiếp trong các dây chuyền lắp ráp công nghệ cao tại các tổ hợp FDI lớn.
  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động lan tỏa công nghệ và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các doanh nghiệp tư nhân địa phương trong các giai đoạn phát triển tiếp theo của tỉnh.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Thái Nguyên (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các KCN, Sở Tài nguyên và Môi trường) và chính quyền các tỉnh khu vực trung du, miền núi phía Bắc: Hữu ích trong việc xây dựng tiêu chuẩn lựa chọn dự án đầu tư, thiết kế chính sách xúc tiến đầu tư có chọn lọc, hoàn thiện hạ tầng bảo vệ môi trường KCN và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật.
  • Các nhà hoạch định chính sách cấp trung ương: Đáng tham khảo ở nội dung kiến nghị về phân cấp quản lý đầu tư nước ngoài và cơ chế kiểm soát công nghệ nhằm ngăn chặn rủi ro ô nhiễm môi trường.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc khối ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Kinh tế đầu tư: Đáng tham khảo về phương pháp xây dựng khung lý thuyết, cách thiết kế bảng hỏi điều tra kết hợp hai nhóm mẫu sơ cấp và quy trình xử lý dữ liệu thống kê kiểm định mô hình EFA trong nghiên cứu kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Dự án nào đã tạo ra bước nhảy vọt trong thu hút FDI tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000-2017?
Dự án Tổ hợp công nghệ cao Samsung được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào năm 2014 với số vốn 3,27 tỷ USD là bước ngoặt đưa Thái Nguyên vươn lên dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI, góp phần làm tăng mạnh số lượng dự án lũy kế lên 131 dự án vào cuối năm 2017 (so với chỉ 5 doanh nghiệp vào năm 2011) và chuyển dịch căn bản cơ cấu công nghiệp của tỉnh.

Quy mô và đối tượng khảo sát sơ cấp của luận án được tiến hành như thế nào?
Tác giả đã triển khai 2 cuộc khảo sát: thứ nhất là điều tra 60 người dân (chủ yếu là trưởng thôn, phó thôn, tổ trưởng, tổ phó dân phố) tại 6 khu công nghiệp của tỉnh với bảng hỏi 21 câu trả lời đồng ý/không đồng ý; thứ hai là điều tra 140 cán bộ, chuyên viên và lãnh đạo thuộc 07 cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh bằng thang đo Likert để phục vụ phân tích định lượng EFA và hồi quy.

Những mâu thuẫn chính giữa dòng vốn FDI và mục tiêu phát triển bền vững tại Thái Nguyên là gì?
Luận án chỉ ra các mâu thuẫn: công nghiệp hỗ trợ nội địa chậm phát triển khiến tác động lan tỏa thấp; FDI chủ yếu sử dụng lao động phổ thông giá rẻ chưa qua đào tạo nghề ảnh hưởng chất lượng nhân lực lâu dài; dòng vốn phân bố tập trung lệch về công nghiệp chế biến, chế tạo tại một số KCN phía nam; đồng thời đặt ra áp lực lớn về ô nhiễm nước thải, rác thải công nghiệp và áp lực an sinh xã hội.

Các biến số độc lập nào được đưa vào mô hình định lượng đánh giá các nhân tố ảnh hưởng?
Mô hình định lượng xác định biến phụ thuộc là Đánh giá thực trạng thu hút FDI theo hướng PTBV tại tỉnh Thái Nguyên, chịu sự tác động của 3 nhóm biến độc lập: biến YT1 (nhóm nhân tố thuộc về nhà nước trung ương), biến YT2 (nhóm nhân tố thuộc về địa phương) và biến YT3 (nhóm nhân tố thuộc về doanh nghiệp FDI), được kiểm định qua hệ số Cronbach's alpha, kiểm định Bartlett và phân tích hồi quy đa biến.

Chính sách thu hút FDI theo hướng PTBV được tác giả phân định thành những cấp độ nào?
Theo khung lý thuyết tiếp cận, chính sách thu hút FDI theo hướng PTBV được phân định theo 3 cấp độ: Cấp độ 1 (chiến lược) định hướng vai trò của FDI đối với tăng trưởng và năng lực cạnh tranh; Cấp độ 2 (luật định) thiết lập các quy định điều tiết về thương mại, thuế, lao động và môi trường; Cấp độ 3 (thực thi thể chế) vận hành các cơ chế bảo đảm chính sách được triển khai hiệu quả trên thực tế.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thu Hằng đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với ba trụ cột phát triển bền vững tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2000-2017. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập từ cả cán bộ quản lý công quyền và cộng đồng dân cư địa phương, công trình đã làm rõ những đóng góp về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp cùng những tồn tại về công nghiệp hỗ trợ và môi trường sinh thái. Các phát hiện và nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án mang lại cơ sở khoa học thiết thực cho chính quyền tỉnh Thái Nguyên trong việc điều chỉnh chính sách thu hút FDI chọn lọc đến năm 2025, định hướng bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.