phần mở đầu, kết luận, mục lục, bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo; nội dung của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực. Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế cho khu vực công trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế cho khu vực công trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
Tổng quan tài li u nghi n cứu Trong những năm gần đây, trên các tạp chí, báo chí có rất nhiều bài viết về đề tài đào tạo nguồn nhân lực nhƣ: Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 12 Luan van 4 (22) tháng 9-10/2013 nhóm tác giả Cảnh Chí Hoàng, Trần Vĩnh Hoàng, Trƣờng Đại học Tài chính – Marketing đã có bài viết về “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”; trong đó đã khảo sát kinh nghiệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số quốc gia phát triển có nguồn nhân lực chất lƣợng cao nhƣ: Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia có nền khoa học – công nghệ tiên tiến nhất, đã trải qua hơn 200 năm phát triển với triết lý thực dụng và phƣơng châm “nguồn nhân lực là trung tâm của mọi phát triển”. Mỹ đã đƣa ra chiến lƣợc xây dựng nguồn nhân lực với hai hƣớng chủ lực: Tập trung cho đầu tƣ giáo dục – đào tạo và thu hút nhân tài. Vì thế, có thể thấy nƣớc Mỹ luôn coi việc đào tạo nguồn nhân lực là trung tâm của mọi sự phát triển. Đối với Trung Quốc hiện đang là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới; Chính phủ và nhân dân Trung Quốc không ngừng tìm tòi và áp dụng các công nghệ tiên tiến và các phƣơng pháp quản lý tiên tiến của nƣớc khác, trong đó nhấn mạnh về phát triển nguồn nhân lực và thực hiện chính sách đầu tƣ mạnh cho phát triển giáo dục.
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc những năm qua đã chứng minh một hƣớng đi đúng trong việc phát triển nguồn nhân lực để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, đó là tăng trƣởng kinh tế gắn với giáo dục – đào tạo. Nhƣ vậy có thể thấy Trung Quốc rất coi trọng việc giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Đối với nƣớc Nhật là nƣớc đầu tiên ở châu Á đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực. Nhật ƣu tiên tuyển chọn, đào tạo những ngƣời tài giỏi thích hợp cho công cuộc hiện đại hóa đất nƣớc.
Nhật đã có nhiều chính sách đào tạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Phƣơng thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của Nhật là nhằm phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của ngƣời lao động; tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời lao động có khả năng thích Luan van 5 ứng nhanh với điều kiện làm việc luôn thay đổi và nhạy bén trong việc làm chủ công nghệ và các hình thức lao động mới. Nhƣ vậy, có thể thấy bất cứ một quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển kinh tế thì đều phải coi trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực. Về sách và giáo trình liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực cũng có rất nhiều tác giả nhƣ: Lê Du Phong (Chủ biên - 2006), Sách Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, đã đƣa ra khái niệm nguồn nhân lực, phân tích tầm quan trọng nguồn nhân lực với tƣ cách là động lực của sự phát triển; phân tích một số vấn đề về thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở nƣớc ta trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xa hội chủ nghĩa trƣớc yêu cầu phát triển mới.
Tác giả Nguyễn Tiệp (2005), Giáo trình nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Lao động - xã hội, Hà Nội. Đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, nhƣ khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực của đất nƣớc. Tại một bài báo tác giả Võ Xuân Tiến, Đại học Đà Nẵng đã viết về “Một số vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” nhằm làm rõ nội dung nguồn nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của tổ chức, đơn vị và nó chính là yếu tố quyết định sự thành bại của tổ chức trong tƣơng lai. Do đó các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình.
Và một trong những biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu đó là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đối với đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế, tác giả Trƣơng Việt Dũng, Bộ Y tế có bài viết “Đào tạo nhân lực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội” Luan van 6 đăng trên Trang thông tin điện tử Viện chiến lực và chính sách Y tế đã nêu lên những bất cập trong công tác đào tạo và chất lƣợng nhân lực y tế nhƣ: Nhiều địa phƣơng, cơ sở y tế thiếu cán bộ có trình độ từ đại học trở lên, nguồn nhân lực mất cân đối giữa các chuyên khoa, chuyên ngành; việc phân bố cán bộ y tế không đều giữa các vùng miền; nhân lực y tế chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu kỹ thuật cao,. từ đó đã đƣa ra một số giải pháp mang tính định hƣớng cho việc đào tạo nhân lực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Về đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế ở các địa phƣơng, thời gian qua cũng đã có một số đề tài nghiên cứu nhƣ: “Đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế cho tỉnh Bình Định” luận văn thạc sĩ Kinh tế phát triển, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan, năm 2011; đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành y tế tỉnh Bình Định và đề ra những giải pháp có tính đặc thù nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Luận văn thạc sĩ “Tổ chức thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tại cho các bệnh viện công lập” Học viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2011, của tác giả Lê Thị Nguyệt đã khái quát lý luận về tổ chức thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lƣợng cao, nhân tài cũng nhƣ hiệu quả của nguồn nhân lực này của ngành Y tế Việt Nam nói chung và các bệnh viện công lập nói riêng. Các khảo sát cũng chỉ ra thực trạng của việc đào tạo nguồn nhân lực, đƣa ra một số chính sách thực hiện đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các cơ sở y tế và bệnh viện công lập hiện nay. Đối với tỉnh Đắk Lắk và cụ thể là trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, hiện chƣa có đề tài, công trình nào nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực y tế trong các đơn vị sự nghiệp công lập do Sở Y tế Đắk Lắk quản lý. Luan van 7 Do đó, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực đã có trƣớc đây, đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế cho khu vực công trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột - tỉnh Đắk Lắk” sẽ góp phần hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực ngành y tế cho khu vực công trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, cũng nhƣ công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực y tế của tỉnh Đắk Lắk.
Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái ni m a. Nhân lực “Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời họat động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời, và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con ngƣời có sức lao động” [7]. “Nhân lực là nguồn lực của mỗi ngƣời, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của mỗi con ngƣời đƣợc sử dụng trong quá trình lao động sản xuất” [8]. Thể lực là sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay. Thể lực con ngƣời phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ giới tính, gen di truyền, tầm vóc con ngƣời, chế độ dinh dƣỡng, nghỉ ngơi [8].
Trí lực là khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng nhƣ quan điểm, niềm tin, nhân cách của con ngƣời [8]. Nhân cách là những nét đặc trƣng tiêu biểu của con ngƣời, đƣợc hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dục và môi trƣờng. Trong một ngành, một địa phƣơng, nhân lực đƣợc hiểu là sức mạnh của đội ngũ lao động, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong ngành, địa phƣơng đó. Nhân lực của một ngành, một địa phƣơng là toàn bộ những khả năng lao động mà ngành, địa phƣơng cần và huy động đƣợc cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trƣớc mắt và lâu dài của ngành, của địa phƣơng.
Mặt khác, nhân lực còn đƣợc gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác trong quá trình họat động của tổ chức, của ngành, địa phƣơng. Luan van 9 Nhƣ vậy, có thể hiểu một cách khái quát: Nhân lực là sức lực của con ngƣời, làm cho con ngƣời hoạt động và phát triển. Khi sức lực con ngƣời phát triển đến một mức độ nhất định, con ngƣời sẽ tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất. Nguồn nhân lực Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực thể hiện dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Theo góc độ vĩ mô của nền kinh tế: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có khả năng lao động” [25]. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động [25]. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đƣơng lao động chính của xã hội.