Chương 1 TÓNG QUAN 1. Dịch HIV/AIDS trên Thế giới và tại Việt Nam HIV/AIDS là tình trạng bệnh mãn tính không thể chữa khỏi, hệ thống miễn dịch của người nhiễm HIV/AIDS sẽ bị suy yếu dần khiến cho họ mắc các bệnh NTCH, có thể gây tử vong nhanh chóng. Hiện nay do chưa có thuốc điều trị khỏi và vẳc xin phòng bệnh đặc hiệu nên các biện pháp hiệu quả nhằm hạn che toi đa tác hại và sự lan truyền HIV vào cộng đồng là dự phòng với 3 mục tiêu chính: hạn chế tốc độ lây lan HIV. làm chậm quá trình tiến triển từ nhiễm H1V tới bệnh AIDS và làm giảm ảnh hưởng của H1V/AIDS tới kinh tế-xã hội.
Theo báo cáo của UNAIDS, năm 2008 ước tính trên Thế giới có khoảng 33.4 triệu người nhiễm HIV/AIDS trong đó có 2.1 triệu trẻ em dưới 15 tuổi với gần 80% trẻ sổng ở vùng cận Saharan châu Phi. số người tư vong do AIDS là 2 triệu người với khoảng 280.000 trẻ em dưới 15 tuổi. Dịch HIV/AIDS xuất hiện ờ hầu hết các nơi trên Thế giới và ngày càng có xu hường gia tăng, ước tính của ƯNAIDS năm 2008 có khoảng 2.7 triệu ca nhiễm HIV mới trong đó khoảng 430.000 trẻ em dưới 15 tuổi. Trong những năm gần đây dịch HIV/AIDS có xu hướng gia tăng cao ở các vùng Đông Âu, Trung Á và châu Phi.
Châu Phi là nơi bị ảnh hưởng nặng nhất bởi HIV/AIDS với gần 71% (390.000) trẻ em nhiễm mới vào năm 2008. sổ trẻ em nhiễm HIV mới tại một số vùng khác như: châu Á khoảng 21. Đông Âu và Trung Á gần 3.700 trẻ, châu Mỹ La Tinh là 6. vùng Bắc Phi và Trung Đông là 4.
vùng Vịnh Caribbean là nơi bị ảnh hưởng nhiều bởi vùng Cận Saharan châu Phi với sổ trẻ nhiễm mới là 2. số trẻ em nhiễm mới ở các vùng Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu. châu úc khá thấp với dưới 500 trẻ [25], Tại Việt Nam dịch HIV/AIDS đang trong giai đoạn tập trung, chú yếu ở nhóm có hành vi nguy cơ cao. kết quả giám sát trọng diêm năm 2010 tỷ lệ hiện nhiễm HIV nhóm nghiện chích ma túy là 17,2%, tiếp đến nhóm phụ nữ bán dâm tỷ lệ nhiễm HIV là 4.
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đại diện cho cộng đồng đang ở 6 mức thấp, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai khoảng 0,26% và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự khoảng 0,08%. Hình thái nguy cơ lây nhiễm HIV chủ yếu lây truyền qua đường tiêm chích ma túy do dùng chung kim bơm kim tiêm, tuy nhiên tỷ trọng người nhiễm HIV lây qua đường tình dục đang tăng dần và chiếm tỷ lệ lớn hơn so với những năm trước đây [6]. Kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1990. đến tháng 30/6/2011 cả nước hiện cỏ 190.902 người nhiễm HIV hiện đang còn sổng bao gồm cả người lớn và trẻ em.056 bệnh nhân AIDS và ke từ đầu vụ dịch đến nay có 50.108 trường hợp tử vong do HIV/AIDS [6].
Tình hình dịch HIV/AIDS trong 6 tháng đầu năm 2011: số trường hợp nhiễm HIV phát hiện gồm cả người lớn và trẻ em được báo cáo là 6.146 người, trong đó có 2.477 bệnh nhân AIDS và 844 người tử vong do H1V/AIDS. số trường hợp nhiễm HIV được phát hiện trong 6 tháng đầu năm 2011 tập trung chủ yếu ở một số tỉnh trọng điềm về HIV/AIDS như: TP. Hồ Chí Minh: 961 trường hợp (chiếm 15,6%); Điện Biên: 494 trường hợp (chiếm 8%); Hà Nội: 393 trường hợp (chiếm 6.4%); Sơn La: 264 trường hợp HIV (chiếm 4,3%); Thái Nguyên 233 trường hợp (chiếm 3. Tình hình chăm sóc, điều trị HIV/AIDS cho trẻ em trên Thế giói và Việt Nam 2.
Trên Thế giới Trước xu thế ngày càng tăng của đại dịch, vấn đề chăm sóc, hồ trợ cho người nhiễm HIV/AIDS được đặt ra là một trọng tâm của Chương trình Phòng, chống HIV/AIDS trong đó trẻ em là một trong những đối tượng được quan tâm hàng đầu. Tại một số nước, chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con và chương trình chăm sóc và điều trị HIV/A1DS cho trẻ em được triển khai rất mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đen tháng 12/2008. trên Thế giới có 275.700 trẻ em nhiễm HIV được tiếp cận điều trị ARV.
tuy nhiên mới chỉ đáp ứng được 38% nhu cầu điều trị [20], Các vùng kinh tế phát triển là nơi có tỷ lệ đáp ứng nhu cầu điều trị ARV cho trẻ em cao. Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu điều trị ở 7 Châu Âu và Trung Á là 85%; Châu Mỳ La Tinh và Vịnh Caribbean là 76%; Đông, Nam và Đông Nam Á là 52%; hai vùng thấp nhất Cận Saharan Châu Phi với 35%; vùng Bắc Phi và Trung Đông là 6% [20]. Theo ước tính của LINAIDS trên Thế giới có khoảng 200.000 trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm H1V/AIDS được ngăn chặn trong vòng 12 năm (từ năm 1996 đến năm 2008) [20]. Vấn đề hồ trợ điều trị thuốc ARV được thực hiện từ năm 1996 đã mở ra những triển vọng mới, mang lại hy vọng kéo dài cuộc sống cho rất nhiều bệnh nhân HỈV/AIDS.
Ở các nước phát triển, việc kết hợp các hoạt động tư vấn, chăm sóc. hồ trợ với liệu pháp điều trị ARV gần đây đã được triển khai rộng và cải thiện cuộc sống cho một sổ lượng lớn người nhiễm HIV/AIDS, đồng thời làm thay đổi nhận thức về H1V/AIDS từ một căn bệnh chết người sang một căn bệnh mãn tính, có thế điều trị được. Điều trị HIV/AIDS là điều trị suốt đời trong đó tuân thủ điều trị là yếu tố quan trọng mang tính quyết định sự thành công cùa điều trị. Tưomg tự người lớn.
điều trị bằng thuốc ARV ở trẻ em cũng đòi hỏi việc tuân thủ hết sức chặt chẽ (phải đảm bảo tuân thủ trên 95%). Đảm bảo tuân thủ điều trị ARV sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ nhiễm HIV. Tại Việt Nam Trước tình hình dịch HIV/AIDS không ngừng gia tăng tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn quốc gia về Chân đoán và điều trị HIV/AIDS vào năm 2000 và được sửa đối bồ sung vào năm 2005 và 2009. Bộ Y tế cũng ban hành Quy trình chăm sóc và điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con năm 2007 và Hướng dẫn xét nghiệm phát hiện sớm nhiễm HIV ở trẻ em.
Và kế từ năm 2009 cho đến nay, Uỷ ban quốc gia Phòng, chống HIV/AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm đã phát động chiến dịch dự phòng lây truyền H1V từ mẹ sang con trên toàn quốc, lấy tháng 6 hàng năm là tháng cao điểm của chiến dịch dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con. Điều này cho phép nhận biết sớm trẻ nhiễm HIV từ mẹ, giúp trẻ tiếp cận sớm với chăm sóc và điều trị. 8 Tại Việt Nam chương trình điều trị thuốc ARV miễn phí cho trẻ em được bắt đầu từ năm 2006. Trên phạm vi toàn quốc, Cục Phòng, chống HỈV/AIDS đã chú trọng đến việc thiết lập hệ thống PKNT người lớn và trẻ em ở các tuyến.
Cho đến nay cả nước có 315 PKNT [8]. Các bệnh nhàn HIV/A1DS bao gồm trẻ em nhiễm HIV có thể đãng ký nhận dịch vụ điều trị và chăm sóc miễn phí. Các dịch vụ bao gồm: xét nghiệm HIV, chân đoán và điều trị các bệnh NTCH, theo dõi lâm sàng và các xét nghiệm liên quan, điều trị ARV. giới thiệu tới các dịch vụ chăm sóc tại cộng đồng và các cơ sở chăm sóc y tế khác.
Các bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ARV miễn phí theo Hướng dẫn quốc gia và trước khi điều trị ARV bệnh nhân hoặc NCSC của trẻ em phải được tư vấn cá nhân và nhóm. Bắt đầu vào quá trình điều trị ARV bệnh nhân đi lĩnh thuốc hàng tuần trong 4 tuần đầu tiên, sau đó 2 tuần đi lĩnh thuốc một lần trong 4 tuần tiếp theo và mồi tháng một lần sau đó. đồng thời các bệnh nhân cũng được làm các xét nghiệm cần thiết. Hiện nay Việt Nam đang xây dựng kể hoạch chăm sóc và điều trị HIV/AIDS giai đoạn 201 1 - 2015 với mục tiêu 95% trẻ nhiễm HIV được tiếp cận với dịch vụ điều trị bàng thuốc ARV.
Thực tế cho thấy số trẻ nhiễm HIV được tiếp cận với chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại nhiều tỉnh, thành pho không tương xứng với tình hình dịch tại các địa phương. Đen 30/7/2011, cả nước có 3.023 bệnh nhân HIV/AIDS trẻ em dược tiếp cận điều trị ARV ở tất cả các PKNT trên toàn quốc [10] Nguồn ARV cung cấp cho trẻ được lấy từ chương trình PEPFAR, Quỹ Toàn cầu cho AIDS. Lao và sốt rét, Chính phủ Việt Nam và Quỹ Clinton sáng kiến tiếp cận hệ thống y tế. Dù cơ sở điều trị nào.
do chương trình, dự án nào tài trợ thi việc triển khai điều trị ARV cho trẻ em đều phải thực hiện theo Hướng dẫn của Bộ Y tế. Tại Bệnh viện Nhì Trung ương Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, chương trình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS cho trẻ em bat đầu từ năm 2006 đến nay với sự hỗ trợ của Cục Phòng, chống H1V/AIDS và CDC/LIFE-GAP. Kết quả công tác chăm sóc và điều trị HIV/AIDS từ 2006 - 2010 (Biểu đồ 1). Luỹ tích bệnh nhân HIV/AIDS qua các năm Phòng khám cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc và điều trị HIV/AIDS theo Hướng dẫn quốc gia.
Một số hình thức hỗ trợ tại PKNT bao gồm: Khám định kỳ. theo dõi sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ, cung cấp thuốc ARV. thuốc dự phòng và điều trị nhiễm trùng cơ hội. một số xét nghiệm cơ bản miền phí và xét nghiệm miễn phí chẩn đoán sớm tình trạng nhiễm HIV cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV (trẻ phơi nhiễm), tư vấn cho người chăm sóc trẻ cách nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ.
dự phòng lây nhiễm, sống tích cực. Đồng thời cấp sữa ăn thay thế sữa mẹ cho trẻ phơi nhiễm dưới 18 tháng tuổi nếu trẻ không bú mẹ hoàn toàn, ngoài ra phòng khám cũng hồ trợ sữa ăn thay thế cho một số trẻ giai đoạn AIDS nằm điều trị nội trú tại khoa truyền nhiễm. Bên cạnh đó là các hỗ trợ lương thực thực phẩm cho các trẻ bị suy dinh dưỡng nhận dịch vụ tại phòng khám hoặc gia đình trẻ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Phòng khám có 15 cán bộ y tế tham gia làm việc toàn thời gian và bán thời gian.
Bác sĩ điều trị là cán bộ kiêm nhiệm của Khoa Truyền nhiễm và làm việc bán thời gian. Ngoài ra có các cán bộ hành chính, cán bộ tư vấn. điều dưỡng và một số đồng đẳng viên làm việc toàn thời gian tại PKNT.