Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận và pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 1. Khái niệm và tiêu chí phân loại điểm dân cư Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, ấp, bản, buôn, phum, sóc (có tên gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và các yếu tố khác [8]. Khi phân loại điểm dân cư cần căn cứ vào những đặc điểm cơ bản sau đây: điều kiện sống và lao động của dân cư; chức năng của điểm dân cư; quy mô dân số, quy mô đất đai trong điểm dân cư; vị trí điểm dân cư trong cơ cấu cư dân; cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế.
Trên cơ sở các tiêu chí phân loại trên, hệ thống mạng lưới dân cư nước ta được phân ra thành các loại sau: (1) Đô thị rất lớn: Là thủ đô, thủ phủ của một miền lãnh thổ. Các đô thị này là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật, dịch vụ du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế. của quốc gia, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước. (2) Đô thị lớn: Là loại trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế.
của nhiều tỉnh hay một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ. (3) Đô thị trung bình: Là các trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch của một tỉnh hay nhiều huyện, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của tỉnh hay một vùng lãnh thổ của tỉnh. (4) Đô thị nhỏ: Là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất. của một huyện hay liên xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện.
(5) Làng lớn: Là trung tâm hành chính - chính trị, văn hoá, xã hội, dịch vụ kinh tế của một xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một xã hay nhiều điểm dân cư. n 5 (6) Làng nhỏ: Là nơi ở, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông lâm nghiệp. của nhân dân trong một xã. (7) Các xóm, ấp, trại: Là các điểm dân cư nhỏ nhất, với các điều kiện sống rất thấp kém.
Trong tương lai các điểm dân cư này cần xoá bỏ, sát nhập thành các điểm dân cư lớn hơn [10]. Hiện nay, vấn đề quy hoạch đô thị, quy định những tiêu chuẩn đối với việc phát triển mở rộng, không gian kiến trúc… đã được sự quan tâm của nhà nước. Tại Nghị định số 29/2007/NĐ-CP ngày 27/2/2007 của Chính Phủ quy định cụ thể về vấn đề quản lý kiến trúc đô thị, cụ thể [9]: Nghị định quy định cụ thể các quy định đối với từng hạng mục công trình trong kiến trúc tổng quan đô thị. Trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Chính Phủ quy định cụ thể về việc phân loại đô thị.
Đô thị được phân thành 6 loại: - Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. - Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. - Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. - Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
- Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn [10]. Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu dân cư Trong quá trình phát triển, các điểm dân cư (đô thị và nông thôn) ở nước ta phần lớn được hình thành và phát triển một cách tự phát. Vì vậy mà tình trạng xây dựng lộn xộn, manh mún, không thống nhất, không đồng bộ, sử dụng đất không hiệu quả, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước đối với đất khu dân cư đồng thời cũng gây khó khăn cho việc tu sửa cải tạo và xây dựng mới. Chính vì vậy, hiện n 6 nay Nhà nước ta đã ban hành các một số văn bản về quy định và quản lý trong quy hoạch và phát triển khu dân cư.
Những quy định về định mức sử dụng đất Định mức sử dụng đất là cơ sở quan trọng để nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch kế hoạch sử dụng đất khu dân cư nói riêng. Theo điều 6 Nghị định 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 thì hạn mức giao đất cho hộ gia đình cá nhân tại khu dân cư nông thôn do UBND cấp tỉnh quyết định theo quy định sau: + Các xã đồng bằng không quá 300 m2. + Các xã trung du miền núi, hải đảo không quá 400 m2. Điều 86 Luật đất đai năm 2003 “Đất sử dụng để chỉnh trang, phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn” đã quy định: + Việc sử dụng đất để chỉnh trang, phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Định mức sử dụng đất trong khu dân cư Khu vực đồng bằng Khu vực miền Loại đất ven biển núi, trung du Diện tích Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ 2 (m /người) (%) (m2/người) (%) - Tổng số 54 - 98 100,00 64 - 110 100,00 - Đất ở 30 - 65 60 - 64 35 - 75 61 - 65 - Đất xây dựng các công trình công cộng 7-9 9 - 13 10 - 11 10 - 14 - Đất làm đường giao thông 6-9 8 - 12 9 - 10 9 - 13 - Đất cây xanh 3-4 3-7 2-3 1-5 - Đất tiểu thủ công nghiệp 8 - 11 10 - 14 8 - 11 9 - 13 (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2006) Theo công văn số 5763/BTNMT-ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên & Môi trường về việc hướng dẫn định mức sử dụng đất áp dụng trong công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã hướng dẫn áp dụng định n 7 mức cho 10 loại đất: Đất y tế, đất văn hoá, đất giáo dục, đất thể thao, đất thương nghiệp dịch vụ, đất giao thông vận tải, đất thuỷ lợi, đất công nghiệp, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn. Những quy định về quản lý đất đai và quản lý quy hoạch xây dựng a. Quản lý đất đai Quản lý đất đai theo quy hoạch đã được ghi cụ thể trong Luật Đất đai hiện hành. Trong phạm vi điểm DCNT bao gồm các loại đất phân theo các mục đích sử dụng như: đất ở; đất nông nghiệp (đất vườn, ao thả cá trong khuôn viên của hộ gia đình và có thể có một số đất nông nghiệp khác nằm xen kẽ trong dân cư, do UBND xã quản lý sử dụng); đất lâm nghiệp; đất chuyên dùng; đất phi nông nghiệp; đất chưa sử dụng.
Theo quy định của Luật Đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý các loại đất và giao cho hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức sử dụng theo đúng mục đích và có hiệu quả. - Đất ở của mỗi hộ gia đình được quy định hạn mức cụ thể tuỳ theo từng địa phương dựa trên căn cứ điều 83, 84 của Luật Đất đai năm 2003. - Các loại đất chuyên dùng phục vụ yêu cầu xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở và phục vụ lợi ích công cộng phải được sử dụng theo đúng mục đích trên cơ sở phương án quy hoạch thiết kế đã được phê duyệt. Quản lý quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn Quy hoạch xây dựng cho khu vực nông thôn là công việc được triển khai thực hiện đối với từng điểm dân cư nông thôn kể cả điểm dân cư nông thôn là trung tâm xã, thị tứ, trung tâm cụm liên xã.
Công tác quy hoạch xây dựng điểm DCNT bao gồm quy hoạch xây dựng các điểm DCNT mới và quy hoạch cải tạo xây dựng phát triển các điểm DCNT hiện có. Phương án quy hoạch xây dựng và phát triển một điểm DCNT mới, hoặc quy hoạch cải tạo xây dựng một điểm DCNT hiện có, sau khi đã được phê duyệt sẽ trở thành căn cứ để triển khai công tác xây dựng. Đồng thời nó cũng là cơ sở pháp lý cùng với hệ thống pháp luật và chính sách của nhà nước làm căn cứ để quản lý công tác cải tạo, xây dựng và kiểm soát quá trình thay đổi làm cho điểm dân cư được phát triển theo đúng ý đồ đã được xác định. n 8 Việc quản lý quy hoạch trước hết là đối với việc sử dụng đất đai cho thiết kế đường xá, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật và môi trường nông thôn.
Cần phải quản lý tốt và triển khai cải tạo hoặc xây dựng từng bước các phần đất này theo đúng mục đích mới có thể thực hiện được mục tiêu phát triển lâu dài các điểm dân cư. Đối với đất ở của từng hộ gia đình trong điểm dân cư hiện có, khi tiến hành quy hoạch cải tạo nếu có những kiến nghị về điều chỉnh đất đai cần có phương án đền bù thoả đáng khi trưng dụng đất phục vụ lợi ích công cộng hoặc dồn đổi giữa các chủ sử dụng đất với nhau. Để thực thi các giải pháp này cần có sự phân tích vận động đối với chủ sử dụng đất thông qua hoạt động của cơ quan chính quyền và các tổ chức xã hội khác.