CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC 1. Tổng quan về đánh giá thành tích nhân viên 1. Một số khái niệm - Nhân lực Xét trong phạm vi xã hội, tổ chức được hiểu là các cơ quan, đơn vị hành chính thuộc hệ thống thiết chế nhà nước, các đơn vị sự nghiệp của nhà nước (đơn vị sự nghiệp công), các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức nghề nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ, v. Các tổ chức trong xã hội có mục đích hoạt động, mô hình tổ chức và chức năng, nhiệm vụ khác nhau theo quy định của pháp luật.
Một trong những yếu tố quan trọng để các tổ chức này hoạt động và thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định là nhân lực, đây là yếu tố không thể thiếu và mang tính quyết định đối với công tác tổ chức và hoạt động của các loại hình tổ chức. “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động. Nhân lực của một tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức.
Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức, tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát nhân lực là sức người. Cụ thể hơn, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, nằm trong mỗi con người và làm cho Luan van -5- con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người.
Nhờ sức lực đó phát triển đến mức độ cần thiết, con người tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, tôn giáo, chính trị, văn hoá, xã hội… - Nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các nhân tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi. Nguồn nhân lực vừa là phương tiện vừa là mục đích, nguồn nhân lực tương tác với các nguồn lực khác và đó là con người có cá tính, năng lực riêng. “Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó.
“Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.10] “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, có quan hệ chặt chẽ với dân số, là bộ phận quan trọng trong dân số, đóng vai trò tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.10] Tóm lại, nguồn nhân lực chúng ta đang xem xét là nguồn lực con người, là tiềm năng lao động của mỗi con người trong một thời gian nhất định. Nguồn nhân lực là động lực nội sinh quan trọng nhất, được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng, trong đó trí tuệ, thể lực và phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và Luan van -6- sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, của địa phương hay một quốc gia. - Quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu của bất kỳ một tổ chức, nó bao gồm tổng thể những tiềm năng của con người; trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo, nhân cách,.
hay bất kỳ đặc điểm nào khác của con người đáp ứng một cơ cấu KT-XH đòi hỏi. Quản trị nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của mỗi tổ chức, vì nó nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người nhằm sử dụng có hiệu quả của tổ chức và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên , tạo điều kiện cho nhân viên phát huy năng lực cá nhân, kích thích động viên và tạo dựng sự trung thành, tận tâm của nhân viên với tổ chức. Quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định NLL, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, thù lao, sức khoẻ và an toàn nhân viên , và tương quan lao động…[11, tr.01] Các nội dung của Quản trị nguồn nhân lực gồm: Hoạch định nguồn nhân lực, phân tích thiết kế công việc, tuyển mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, thù lao nhân viên. Kết quả của quá trình đánh giá thành tích sẽ là yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thực hiện các chức năng còn lại của quản trị nguồn nhân lực.
- Đánh giá thành tích nhân viên “Đánh giá thành tích nhân viên là tiến trình đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tổ chức trong một giai đoạn”.161] “Đánh giá thành tích công tác là một hệ thống chính thức duyệt xét và đánh giá sự hoàn thành công tác của nhân viên theo định kỳ”. [9] Luan van -7- “Đánh giá thành tích nhân viên hay đánh giá sự hoàn thành công tác hay còn được gọi là đánh giá thành tích công tác là một hệ thống chính thức xét duyệt và đánh giá sự hoàn thành công tác của một cá nhân theo định kỳ”[10, tr. Theo các định nghĩa trên cho thấy đánh giá thành tích là tiến trình khoa học và có tính hệ thống. Hệ thống đánh giá này được đánh giá cái đã đạt được so với cái cần phải đạt được trên cơ sở phân tích công việc của từng cá nhân.
Ý nghĩa của việc đánh giá thành tích nhân viên trong tổ chức Đánh giá thành tích là một công việc rất quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực. Trên thực tế, hầu hết mọi tổ chức đều cố gắng thực hiện các công việc sau: Thiết kế công việc và xác định hệ thống công việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuyển lựa nhân lực với khả năng và ước muốn thực hiện công việc một cách hữu hiệu và hiệu quả nhất. Đào tạo, động viên và khen thưởng nhân viên về thành tích và hiệu suất công việc.
Đánh giá thành tích sẽ chính là cơ chế kiểm soát, đem lại thông tin phản hồi không chỉ cho từng cá nhân mà còn đánh giá tổ chức về các phần việc đang tiến hành, nhằm giúp cho nhà quản trị biết được nhân viên có đi đến đúng mục tiêu, theo đúng cách thức và tiêu chuẩn mong muốn hay không? - Sự thống nhất giữa hành vi công việc và chiến lược tổ chức Đánh giá thành tích đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hành vi mà nhân viên thực hiện trên công việc nhất quán với chiến lược của tổ chức. Trong thực tế cho thấy, nhân viên sẽ thực hiện hành vi mà họ cảm nhận sẽ được tán thưởng. Nhân viên mong muốn được tổ chức công nhận và thưởng, vì thế họ tìm mọi cách để thực hiện những điều mà tổ chức nhấn mạnh. Qua đó, việc đánh giá thành tích trở thành phương tiện để nhận biết hành vi của nhân viên có nhất quán với mục tiêu chiến lược của tổ chức hay không và đánh giá thành tích trở thành cách thức giúp tổ chức đối phó với những bất ổn, nguy hại đến chiến lược chung.
Luan van -8- - Sự nhất quán giữa hành vi công việc và giá trị tổ chức Đánh giá thành tích là công cụ để củng cố giá trị và văn hoá của tổ chức. Giá trị được truyền thông và chia sẻ trong toàn tổ chức là phát triển con người thì đánh giá thành tích sẽ góp phần vào việc xem xét liệu rằng nhà quản trị có chia sẻ giá trị này trong tổ chức hay không? Hơn nữa, nếu nhà quản trị chịu trách nhiệm về phát triển nhân viên và trong bản đánh giá thành tích có khoản mục này thì họ sẽ dành nhiều thời gian hơn để phát triển, trợ giúp cấp dưới của mình. Đánh giá thành tích là sự liên kết đánh giá với văn hoá của tổ chức. Đánh giá thành tích sẽ đảm bảo điều chỉnh hành vi nhân viên thể hiện tại nơi làm việc sao cho nhất quán với văn hoá của tổ chức.
Các chức năng của đánh giá thành tích 1. Đánh giá thành tích là công cụ phát triển nhân viên Đánh giá thành tích có thể sử dụng theo một vài cách thức khác nhau để khuyến khích phát triển nhân viên. Đánh giá thành tích đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố và cải thiện thành tích cũng như trong việc xác định định hướng nghề nghiệp và nhu cầu đào tạo. - Củng cố và duy trì thành tích: Bằng cách cung cấp thông tin phản hồi về thành tích quá khứ, người quản lý có thể khuyến khích nhân viên tiếp tục theo chiều hướng thành tích tốt mà họ đã đạt được.
Nhân viên hoàn thành công việc tốt sẽ được tán dương, khen ngợi và nhận được sự tăng thêm hay phần thưởng tài chính.