CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 1. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở ngoài nước Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới khoa học, công nghệ, đánh giá KH&CN, đánh giá tác động KH&CN tới sự phát triển KTXH với nhiều cách tiếp cận khác nhau của các tổ chức, các chuyên gia và nhà nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc làm rõ nội hàm khái niệm KH&CN, tác động của KH&CN, các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của nhiệm vụ KH&CN sau nghiệm thu tới phát triển KTXH, các phương pháp, quy trình, tiêu chí và công cụ đánh giá tác động của KH&CN tới sự phát triển KTXH. Các nghiên cứu về khái niệm, mục tiêu đánh giá tác động Theo Deketele (1999), đánh giá có thể được hiểu là việc so sánh mức độ phù hợp giữa mục tiêu đề ra với một tập hợp thông tin có giá trị, đáng tin cậy; còn Laws (2006) cho rằng: đánh giá là kết luận về một vấn đề nào đó dựa trên quá trình thu thập số liệu và phân tích bằng chứng cụ thể.
Trong hoạt động KH&CN, đánh giá là hoạt động có tính chuyên nghiệp, được tiến hành một cách có hệ thống, có mục đích rõ ràng dựa trên trình tự, thủ tục, nguyên tắc, tiêu chuẩn phù hợp để đưa ra những phán đoán, kết luận dựa trên những bằng chứng sát thực. Do đó, các yếu tố cơ bản cấu thành hoạt động đánh giá nhiệm vụ KH&CN bao gồm đối tượng đánh giá, mục đích đánh giá, phương pháp, phương thức đánh giá, phạm vi, quy phạm, tiêu chuẩn đánh giá và các căn cứ đánh giá. Từ điển Mỹ (2020) cho rằng: Tác động là việc đo lường những ảnh hưởng hữu hình và vô hình (hậu quả) từ hoạt động hoặc ảnh hưởng của một vật lên vật khác. Còn theo Storm (2018), tác động là Tác động lên, thay đổi hoặc mang lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội, văn hóa, chính sách công hoặc dịch vụ, sức khỏe, môi trường hoặc chất lượng cuộc sống, ngoài học thuật.
9 SFI định nghĩa tác động là "ảnh hưởng" trực tiếp và gián tiếp của nghiên cứu hoặc "ảnh hưởng của nó đối với" một cá nhân, một cộng đồng hoặc toàn xã hội, bao gồm các lợi ích đối với kinh tế, xã hội, con người. Theo IAIA (2009), tác động là khi thực hiện một hoạt động nào đó hoặc không thực hiện hoạt động sẽ có sự khác biệt giữa các vấn đề nào đó xảy ra. Bao gồm các ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, nguyên phát và thứ phát ở tầm dài hạn do sự can thiệp phát triển nào đó tạo ra, trực tiếp hay gián tiếp, có chủ đích hay không có chủ đích. Đánh giá tác động hay đánh giá sau nghiệm thu (Ex-post Evaluation) được tiến hành sau khi đề tài, dự án đã kết thúc sau một thời gian nhất định.
Theo Công ước đa dạng sinh học (2010), đánh giá tác động được thực hiện để đánh giá hậu quả của các dự án riêng lẻ, đánh giá tác động môi trường hoặc của các chính sách và chương trình, đánh giá môi trường chiến lược; Còn theo OECD (2020), đánh giá tác động là đánh giá về mức độ ảnh hưởng của can thiệp được đánh giá kết quả, cho dù những tác động này là dự định hay ngoài ý muốn và mục đích của đánh giá tác động: Một đánh giá tác động được thiết kế phù hợp có thể trả lời câu hỏi liệu chương trình, đề tài, dự án có hoạt động hay không và do đó hỗ trợ trong các quyết định về việc mở rộng quy mô. Tuy nhiên, cần phải quan tâm đến việc khái quát hóa từ một bối cảnh cụ thể. Một thiết kế tốt đánh giá tác động cũng có thể trả lời các câu hỏi về thiết kế chương trình, đề tài, dự án: Hoạt động hay không hoạt động, và do đó, cung cấp thông tin liên quan đến chính sách để thiết kế lại và thiết kế các chương trình, đề tài, dự án trong tương lai. Jean-Pierre Cling và cộng sự (2008) cho rằng: công tác đánh giá các chính sách có nhiều thành phần đánh giá, trong đó có đánh giá tác động, có thể chia thành ba nhóm tiêu chí đánh giá cơ bản là: Đánh giá nhu cầu; Đánh giá quy trình; Đánh giá tác động mới xuất hiện.
Theo Trung tâm Bồi dưỡng Đại biểu Dân cử (2020), đánh giá tác động của chính sách là điều tra, khảo sát và phân tích dữ liệu liên quan đến chính sách để xác định chính sách đã triển khai có tạo ra tác động như mong muốn hay không, đồng thời cũng xem xét nó có tạo ra một số tác động ngoài mong muốn không. Treasury (2010) cho rằng: Chính phủ Anh khi sử dụng tài chính công cần nâng cao 10 hiệu quả và hiệu lực để làm sao việc đầu tư công đem lại mang lại hiệu quả lớn nhất về KTXH. Các bước của quy trình xây dựng kế hoạch đánh giá cần xác đinh rõ: Mục tiêu, dự kiến kết quả của chương trình; Khách hàng mục tiêu của chương trình; Mục tiêu và những vấn đề mà chương trình phải nghiên cứu; cách tiếp cận đánh giá; tiêu chuẩn về dữ liệu đánh giá; các nguồn lực cần thiết trong quá trình đánh giá; đánh giá và sử dụng kết quả sau đánh giá để làm gì. Mục đích đánh giá tác động để trả lời cho câu hỏi: "Chương trình đã tạo ra sự khác biệt nào?”.
Theo Văn phòng quản lý và ngân sách Mỹ (2007), mục đích đánh giá tác động tùy thuộc vào mục tiêu của các quốc gia, Mỹ đã ban hành nhiều bộ luật và yêu cầu việc đánh giá là cơ quan về KH&CN phải thực hiện. Ở Mỹ hoạt động đánh giá là hoạt động bao trùm các hoạt động khác của Chính phủ. Để cải tiến công tác lập kế hoạch, xây dựng mối liên kết giữa kết quả của chính phủ GPRA với việc thực hiện luật, quá trình phân bổ ngân sách một cách hệ thống người ta tiến hành đánh giá chương trình để lấy thông tin. Bắt đầu tháng 7/2022, bộ công cụ đánh giá hiệu quả được chính quyền Mỹ công bố áp dụng để đánh giá các chương trình liên bang gọi là PART.
PART đánh giá chương trình từ việc thiết kế, quá trình triến khai thực hiện và kết quả đạt được một cách tổng thể. Bộ công cụ PART gồm 25 câu hỏi chia làm 4 nhóm, gán trọng số và chấm điểm, cụ thể: Mục đích, thiết kế chương trình (trọng số 20%, bao gồm 5 câu hỏi,); Kế hoạch và chiến lược (trọng số 10%, bao gồm 8 câu hỏi); Quản lý chương trình (trọng số 20%, bao gồm 7 câu hỏi); Kết quả của chương trình (trọng số 50%, bao gồm 5 câu hỏi). Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng bộ công cụ PART nói trên, Chính phủ đã thay PART quản lý các chương trình bằng việc sử dụng hiệu quả thông tin về hiệu suất hoạt động của chương trình. Đánh giá tác động, về phương pháp tiếp cận, trả lời câu hỏi: Vấn đề gì có thể đã xảy ra nếu chương trình, đề tài, dự án không triển khai? Để phương pháp tiệp cận 11 này thành công thì khả năng thiết lập một nhóm đối chứng gọi là “các nhóm so sánh” đóng một vai trò rất quan trọng.
Tại nước Anh họ sử dụng một số phương pháp để xác định nhóm đối chứng như phương pháp thử nghiệm ngẫu nhiên, phương pháp hồi quy gián đoạn, … Để biết chương trình có mang lại hiệu quả và lợi ích hay không, người ta có thể đánh giá hiệu quả kinh tế, để so sánh chi phí với lợi ích của chương trình mang lại ra sao?. Một số phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế thường được sử dụng như: phân tích hiệu quả, chi phí; phân tích lợi ích, chi phí. Theo Treasury (2011), EU đưa ra bộ tiêu chí đánh giá để đánh giá tác động của chương trình/chính sách. Để phân tích tác động theo EU cần phải xem xét tiềm năng tác động về kinh tế, tác động về xã hội, tác động về môi trường, tác động về thương mại trong đó có tác động kỳ vọng và cả tác động không kỳ vọng của chương trình/chính sách lựa chọn.
Chương trình thể hiện những tác động về kinh tế thông qua thay đổi chi phí và giá cả. Một số hành vi của tác nhân kinh tế, ảnh hưởng đến các hộ gia đình; doanh nghiệp; khách hàng và cơ quan quản lý chịu ảnh hưởng bởi những thay đổi về chi phí và giá cả. Đặc biệt các yếu tố liên quan đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm, năng suất thì khi xác định các tác động kinh tế cần được chú ý đến. Để đo tiềm năng của nền kinh tế người ta dùng năng lực cạnh tranh, nền kinh tế cung cấp việc làm cho người dân có tỉ lệ cao, mức sống cao một cách bền vững.
Cụ thể, các tác động tiềm năng của chương trình/chính sách về kinh tế, về xã hội và về môi trường có liên quan đến: Chất lượng, số lượng công việc tạo ra, khách hàng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sự phát triển và đổi mới công nghệ, đầu tư xuyên quốc gia và thương mại quốc tế; Chi phí hoạt động, chi phí đầu tư, dịch vụ, sản phẩm của doanh nghiệp, kinh tế vĩ mô, cơ quan quản lý và sự phát triển của quốc gia. Các nghiên cứu về phương pháp, tiêu chí, quy trình đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến tác động của nhiệm vụ khoa học và công nghệ Về phương pháp đánh giá sau nghiệm thu, theo Fasella (1984), đánh giá các nhiệm vụ KH&CN thường sử dụng thông qua Hội đồng để đánh giá bằng phương pháp chuyên gia. Còn theo Rouban (1985) cho rằng, mặc dù có thể đưa ra một hệ 12 thống chỉ báo rõ ràng, tuy nhiên khi tiến hành đánh giá và sử dụng chúng thì sẽ phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Do vậy, việc đưa ra một hệ thống chỉ báo có thể áp dụng cho mọi đánh giá vẫn đang là vấn đề đang được bàn cãi.
Nói chung những chỉ báo cho nghiên cứu với mục tiêu cụ thể thì chủ yếu dựa trên tỉ lệ của chi phí/lợi nhuận. Theo Matthe (2009), đưa ra phương pháp “Before and After” đánh giá sự khác biệt trong nhóm mục tiêu trước và sau khi nghiên cứu với cách tiếp cận tổng hợp. Các phương pháp sử dụng trong đanh giá được sử dụng như: Phương pháp so sánh hiệu quả khi có và không có chương trình (contort and treatment); Phương pháp tính toán khác nhau trong sự khác nhau (DID). Phương pháp DID đã trở thành sử dụng rất phổ biến trong kinh tế học thực nghiệm kể từ khi nó trong phát triển bởi Ashenfelter (1978).